BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng 9 tháng đầu năm;
nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 3 tháng cuối năm 2011
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2011.
Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2011. Giá cả trong nước tăng cao do tác động của tăng giá thế giới và sự điều chỉnh giá một số mặt hàng thiết yếu theo giá thị trường; lãi suất vay ngân hàng cao làm cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ và đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn; các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh, một số nhà máy chưa đưa vào sản xuất, kinh doanh theo kế hoạch...
Tuy nhiên, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành, UBND các huyện, thị xã tổ chức thực hiện có kết quả các giải pháp chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 ban hành kèm theo Kế hoạch số 42/KH-UBND ngày 02/3/2011 và Kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 16/3/2011 về triển khai thực hiện các nhóm giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội nên kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 9 tháng đầu năm vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức cao; tình hình lạm phát ở địa phương đã chững lại và có chiều hướng giảm dần; an sinh xã hội địa phương cơ bản được đảm bảo. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể như sau:
I. Kết quả đạt được:
1. Về lĩnh vực kinh tế:
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) 9 tháng đầu năm 2011 ước đạt 2.509 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), tăng 15,17% so với cùng kỳ năm 2010 và bằng 51,87% kế hoạch năm; trong đó khu vực nông lâm thủy sản đạt 918,7 tỷ đồng, tăng 7,87%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 968,5 tỷ đồng, tăng 24,52%; dịch vụ đạt 621,9 tỷ đồng, tăng 12,9%. Nhìn chung, nền kinh tế trong 9 tháng đầu năm phát triển theo chiều hướng tích cực, thực hiện đạt kết quả mục tiêu ổn định tăng trưởng kinh tế, góp phần chống lạm phát theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.
a) Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (theo giá hiện hành)
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 9 tháng đầu năm đạt 1.600 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm 2010; trong đó, nông nghiệp đạt 1.540 tỷ đồng, tăng 7,71%; lâm nghiệp đạt 41 tỷ đồng, tăng 10,85%; thủy sản đạt 19 tỷ đồng, tăng 12%.
Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2011 đạt 261.078 ha, bằng 98,8% kế hoạch; trong đó một số cây trồng chủ yếu như: lúa (cả năm): 12.487 ha, bằng 96,64% kế hoạch; cao su: 24.532 ha, bằng 106,2% kế hoạch; điều: 21.907 ha, bằng 98,45% kế hoạch; tiêu: 7.685 ha, bằng 107,48% kế hoạch.
Về chăn nuôi: 9 tháng đầu năm 2011, tình hình dịch bệnh trên địa bàn ổn định, do giá thịt hơi tăng cao nên số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng mạnh. Tăng nhiều nhất là đàn lợn (tăng 17.851 con) và đàn trâu bò (tăng 2.949 con).
Về thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng tăng do một số diện tích mặt nước hồ chứa, hồ thủy điện bước đầu đưa vào nuôi trồng. Chính vì vậy sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng cao hơn, tuy nhiên sản lượng từ khai thác thủy sản tự nhiên có xu hướng giảm. Trong 9 tháng đầu năm, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 890 ha, bằng 98,9% kế hoạch; sản lượng thủy sản ước đạt 1.482 tấn, bằng 58,58% kế hoạch.
Về sản xuất lâm nghiệp: Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được tiếp tục duy trì, các địa phương đều tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng. Đã triển khai giao khoán quản lý rừng phòng hộ với diện tích 33.052/33.212 ha (đạt 99,51% KH). Trồng rừng tập trung trong 9 tháng đầu năm đạt 1.7197/1.300 ha, bằng 132,5% kế hoạch; chăm sóc rừng trồng đạt 371/371 ha.
Thực hiện giải tỏa cưỡng chế gần 500 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép tại xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức, giao cho Công ty lâm nghiệp Quảng Tín quản lý và đến nay đã cơ bản trồng xong rừng.
Hoàn thành việc rà soát các dự án lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở đánh giá hiệu quả của dự án, sẽ thu hồi một số dự án không hiệu quả, để mất đất rừng.
Chương trình xây dựng nông thôn mới: Hiện nay, tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo từ cấp tỉnh đến cấp huyện để tập trung đôn đốc triển khai thực hiện; đã có 43/61 xã và 247/673 thôn/bon thành lập Ban quản lý cấp xã và cấp thôn. Trong số 6 xã thí điểm của tỉnh, đến nay có 1 xã có quy hoạch được duyệt, 3 xã đang thẩm định quy hoạch. Dự kiến đến hết năm 2011 có 52/61 xã hoàn chỉnh công tác quy hoạch. Nhìn chung, công tác triển khai quy hoạch còn chậm so với yêu cầu. Hiện nay, tỉnh đang kiến nghị Trung ương ban hành định mức cho công tác lập quy hoạch của Chương trình nông thôn mới theo các tiêu chí như dân số, diện tích…
Về Chương trình nông nghiệp công nghệ cao: Tỉnh đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 07/4/2011 của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020. Tiến hành khảo sát, lựa chọn địa điểm quy hoạch khu nông nghiệp công nghệ cao; tổ chức 7 lớp tập huấn, 2 cuộc hội thảo và tham quan học tập kinh nghiệm của các tỉnh.
b) Sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành)
Sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm gặp rất nhiều khó khăn, bất lợi do giá cả nguyên nhiện vật liệu đầu vào đều tăng cao, nguồn vốn tín dụng thắt chặt, lãi suất ở mức cao... làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; mặc dù vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành cùng với nỗ lực, cố gắng của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất từng bước tháo gỡ khó khăn, duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đạt 3.040 tỷ đồng, tăng 24,19 % so cùng kỳ năm trước. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2011 tăng trưởng ổn định và cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như: Đường RS đạt 23.000 tấn, tăng 119%; điện sản xuất đạt 553 triệu kwh, tăng 38,25%; điện thương phẩm đạt 189,50 triệu kwh, tăng 18,43%; khí CO2 đạt 11.500 tấn, tăng 570,55%; hạt điều đạt 3.775 tấn, tăng 117,83%; đậu phụng sấy xuất khẩu đạt 3.760 tấn, tăng 50,4%,…
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh đang quy hoạch và triển khai đầu tư 01 khu công nghiệp và 06 cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch là 472,63 ha. Trong đó: Khu công nghiệp Tâm Thắng đã thu hút được 29 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.178 tỷ đồng; vốn thực hiện 960 tỷ đồng; Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Đắk Ha hoàn thành đầu tư hạ tầng đang kêu gọi đầu tư; các Cụm công nghiệp Thuận An, Quảng Tâm đang tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng hạ tầng; Cụm công nghiệp Nhân Cơ đang tiếp tục đền bù, giải phóng mặt bằng phần diện tích còn lại; các Cụm công nghiệp Krông Nô, Đắk Song đã hoàn chỉnh việc quy hoạch.
c) Hoạt động dịch vụ:
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm là 4.659,2 tỷ đồng, đạt 61,62% kế hoạch năm 2011 và tăng 25,42% so với cùng kỳ năm trước; dự kiến cả năm đạt 6.500 tỷ đồng, bằng 85,97% kế hoạch.
Mặc dù thị trường hàng hóa tương đối ổn định, doanh thu thương mại, dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm 2010, nhưng về mặt hiệu quả kinh tế còn hạn chế, phương thức kinh doanh thương mại còn mang nặng tính truyền thống; mạng lưới phân phối hàng hóa chưa phát triển, nhất là hệ thống đại lý, tổng đại lý phân phối; hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại tại các trung tâm huyện, thị xã chưa có do đó chưa bắt kịp nhu cầu của thị trường, nguồn cung và giá cả hàng hóa chịu sự chi phối nhiều từ các tỉnh lân cận. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng hơn so với cùng kỳ năm trước là 25,42%, tuy nhiên chưa đạt yêu cầu kế hoạch đề ra; dự kiến cả năm ước đạt 85,97% kế hoạch, tăng 32,65% so với thực hiện năm 2010.
Hiện nay, toàn tỉnh có 10 bưu cục, 43 điểm bưu điện văn hoá, 58 đại lý bưu điện đa dịch vụ; 111 điểm phục vụ; mật độ điện thoại cố định đạt 13,7 máy/100 dân, 26.750 thuê bao di động trả sau, đạt 5,24 máy/100 dân, 2,7 thuê bao Internet/100 dân; 629 trạm BTS.
Về hoạt động xuất khẩu: Trong 9 tháng đầu năm, giá cà phê, tiêu đen, hạt điều nhân và các loại nông sản khác trên thị trường thế giới tăng mạnh do nguồn cung trên thị trường hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá, giá trị kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt là 268 triệu USD (trong đó, xuất khẩu trên địa bàn là 69 triệu USD, bằng 25,75%), đạt 95,71% kế hoạch và tăng 59,52% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: cà phê đạt 77.269 tấn, hạt điều nhân đạt 7.911 tấn, hạt tiêu đen đạt 9.269 tấn, cồn công nghiệp đạt 24,5 triệu lít, tinh bột sắn đạt 2.200 tấn. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là: Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Ả Rập, Philippines, Hoa Kỳ và Ấn Độ.
Kim ngạch nhập khẩu trực tiếp 9 tháng đầu năm 2011 đạt 4,3 triệu USD (kế hoạch 20 triệu USD), mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là điều nguyên liệu và một số máy móc thiết bị phục vụ chế biến nông sản. Đây là điểm tích cực trong việc hạn chế nhập siêu theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ.
d) Công tác quản lý đất đai:
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai được triển khai theo kế hoạch; triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất tỉnh, huyện, xã đến năm 2020, các địa phương đang tiến hành điều tra, thu thập số liệu, điều chỉnh, bổ sung báo cáo thuyết minh quy hoạch sử dụng đất.
Công tác đo đạc bản đồ địa chính: đã hoàn thành được 4.400 ha, đạt 100% kế hoạch năm, nâng tổng diện tích đất đã đo vẽ từ trước đến nay lên là 208.573/223.000 ha. Đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 9.000 ha cho hộ gia đình, đạt 100% kế hoạch năm 2011.
Công tác kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải được chú trọng triển khai thực hiện.
đ) Tài chính, giá cả thị trường và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng:
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 9 tháng đầu năm là 741 tỷ đồng, bằng 94,2% so với dự toán Trung ương giao, đạt 87,2% so với dự toán địa phương giao; trong đó, thu nội địa là 710 tỷ đồng, bằng 90,3% so với dự toán Trung ương giao, bằng 88% so với dự toán địa phương giao.
Tổng chi trong cân đối ngân sách địa phương 9 tháng đầu năm là 2.170 tỷ đồng, bằng 77% so với dự toán địa phương giao. Trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 1.006 tỷ đồng, bằng 109% so với dự toán địa phương giao; chi thường xuyên ước đạt 1.164 tỷ đồng, bằng 68% so với dự toán địa phương giao. Nhìn chung, chi ngân sách địa phương đã đảm bảo các nhiệm vụ được giao, đáp ứng kịp thời kinh phí cho phát triển kinh tế - chính trị, xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng của địa phương.
Giá cả thị trường: Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng tăng cao so với đầu năm; cụ thể chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng tăng 16% (cả nước 16,63%). Giá cả hàng hoá tăng cao ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân, doanh nghiệp, nhất là người nghèo, người thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ, các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước chủ động sắp xếp lại nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của năm 2011. Trong điều kiện đó, để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn đã được giao đầu năm, các cơ quan, đơn vị đã rà soát lại công việc cho phù hợp; tạm dừng các khoản chi cho các nhiệm vụ chưa thật sự cấp bách, nội dung không thiết thực; tạm dừng trang bị mới xe ô tô, mua sắm tài sản có giá trị lớn, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng,...
e) Đầu tư phát triển và tình hình rà soát, điều chuyển, cắt giảm vốn đầu tư năm 2011:
Tổng vốn đầu tư phát triển bằng ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý đến nay là 1.611 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đến hết 30/9/2011 là 1.035 tỷ đồng, bằng 64,3% số vốn đã giao (bình quân chung cả nước là 67,3%). Trong đó, các nguồn vốn có tỷ lệ giải ngân cao như: cân đối ngân sách địa phương, vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư cho các lĩnh vực y tế, thủy lợi. Các nguồn vốn có tỷ lệ giải ngân thấp như: ODA, vốn TPCP đầu tư cho giáo dục, vốn xổ số kiến thiết.
Nhìn chung, việc thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư phát triển cơ bản đạt kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt so với yêu cầu của tỉnh, một số nguồn vốn, lĩnh vực giải ngân chậm. Nguyên nhân là do giá cả nguyên vật liệu lên cao, hồ sơ chậm điều chỉnh, các nhà thầu xây dựng thi công cầm chừng chờ điều chỉnh tổng mức đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm, năng lực của một số nhà thầu yếu kém trước chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ,…Đặc biệt nhiều công trình mở mới hiện không giải ngân được do tạm dừng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ.
Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP, toàn tỉnh đã xác định được 26 công trình cắt giảm vốn với tổng số tiền 80 tỷ đồng. Trong đó, cấp tỉnh cắt giảm 02 đợt: đợt một 11 công trình với số vốn 58,8 tỷ đồng, đợt hai 11 công trình với số vốn 14 tỷ đồng; cấp huyện cắt giảm 4 công trình với số vốn 7,2 tỷ đồng (thị xã Gia Nghĩa cắt giảm 02 công trình với số vốn 3,7 tỷ đồng; huyện Krông Nô cắt giảm 01 công trình với số vốn 2 tỷ đồng; huyện Đắk R’lấp cắt giảm 01 công trình với số vốn 1,5 tỷ đồng). Tuy nhiên, qua rà soát nguồn vốn phân cấp cho cấp huyện, hiện nay có nhiều dự án khởi công mới, thuộc diện phải cắt giảm, điều chỉnh nhưng các địa phương không thực hiện nghiêm túc chủ trương này, vì vậy số vốn giải ngân đạt tỷ lệ quá thấp (dưới 30%). Tất cả số tiền đã cắt giảm được chuyển sang thanh toán nợ và các công trình có khả năng hoàn thành trong năm 2011, các công trình cấp bách của tỉnh và thanh toán cho công tác giải phóng mặt bằng. Thời gian tới UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các địa phương rà soát các dự án chưa thực sự cấp bách để đình hoãn, giãn tiến độ, cắt giảm cho phù hợp. Những công trình cấp thiết, đảm bảo an sinh xã hội thuộc nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương được giải ngân, các chương trình MTQG, trái phiếu Chính phủ giáo dục đang chờ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cho triển khai thực hiện.
f) Công tác quản lý, phát triển doanh nghiệp:
Hoạt động đăng ký và quản lý doanh nghiệp được thực hiện tốt hơn do cơ bản đã hoàn thành hệ thống đăng ký doanh nghiệp Quốc gia. Trong 9 tháng đầu năm đã cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 145 doanh nghiệp với với tổng vốn đăng ký 725 tỷ đồng; bao gồm: 38 doanh nghiệp tư nhân, 91 Công ty TNHH và 16 Công ty Cổ phần. Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động ngày càng có hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đã có đóng góp cho nguồn thu ngân sách nhà nước.
Tỉnh đã thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước theo đúng kế hoạch được phê duyệt. Đang tiến hành sắp xếp chuyển đổi Công ty cà phê Đức Lập thành Công ty cổ phần; chuẩn bị các bước sáp nhập Nhà in Đắk Nông vào Công ty sách và thiết bị trường học để tiến hành cổ phần hóa.
Phối hợp tổ chức thành công Hội nghị phổ biến các Đạo luật liên quan đến đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, tiến hành kiểm tra các doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại 7 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.
g) Tình hình thu hút đầu tư:
- Tình hình cấp phép đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư trong nước: Trong 9 tháng đầu năm 2011 đã cấp đăng ký 66 dự án với tổng số vốn đầu tư 1.687,2 tỷ đồng; trong đó có 15 dự án đang gửi lấy ý kiến; 33 dự án đã có chủ trương đầu tư; 18 dự án đang hướng dẫn nhà đầu tư bổ sung hồ sơ. Các dự án đang trong giai đoạn đăng ký đầu tư và xin chủ trương đầu tư. Những khó khăn, vướng mắc đối với các nhà đầu tư là công tác đền bù giải phóng mặt bằng, xác định giá cho thuê đất, mặt khác một số dự án đầu tư đã được chọn vị trí nhưng chưa điều chỉnh quy hoạch kịp thời gây khó khăn cho nhà đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Trong 9 tháng đầu năm đã cấp 01 giấy chứng nhận đầu tư, với vốn đăng ký 3,04 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 7 dự án, với tổng vốn 26,6 triệu USD.
2. Lĩnh vực văn hóa - xã hội:
a) Công tác giáo dục và đào tạo
Năm học 2011-2012, từ ngành học mầm non đến trung học phổ thông có 330 trường, tăng 12 trường so với năm học 2010-2011; tổng số học sinh đầu năm học 137.777 em, trong đó có 43.313 học sinh là người dân tộc thiểu số, chiếm 31,4%; 7/8 huyện hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.
Ngành đã phối hợp tổ chức kỳ thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12; thi Giải toán trên máy tính Casio cấp tỉnh; tổ chức giáo viên dạy giỏi bậc tiểu học cấp tỉnh. Hoàn thành các thủ tục thành lập ban thực hiện Đề án phát triển hệ thống trường THPT Chuyên tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2010-2020.
Công tác thi tốt nghiệp phổ thông các cấp đã có sự phối hợp của các ngành, các cấp, bảo đảm an toàn, đúng quy chế, hạn chế được các tiêu cực trong thi cử. Kết quả: Hệ THPT, số học sinh đỗ tốt nghiệp 4.187/5.168 thí sinh dự thi, đạt 81,01%. Hệ bổ túc THPT: Số học sinh đỗ tốt nghiệp 431/467 thí sinh dự thi, đạt 92,29%.
Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia: Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương thường xuyên quan tâm trong việc xây dựng cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giáo dục, công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch. Đến nay, số trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh là 50 trường, tăng 08 trường so với năm học 2010. Dự kiến đến hết năm 2011 số trường đạt chuẩn là 56/311 trường, đạt 18% kế hoạch.
Công tác chuẩn bị cho năm học 2011-2012, đã chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, công tác tuyển sinh, lên kế hoạch triển khai thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", kiểm tra việc thực hiện chế độ cho học sinh dân tộc nội trú…
b) Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Ngành y tế đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương thường xuyên theo dõi, giám sát, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm; đặc biệt là sốt xuất huyết, sốt rét, sốt phát ban… Kiểm tra liên ngành về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các huyện và thị xã; triển khai tháng hàng động vì trẻ em trên phạm vi toàn tỉnh.
Hiện nay, toàn tỉnh với 71/71 xã, phường, thị trấn có trạm y tế, trong đó có 7 xã chưa được đầu tư xây dựng, phải thuê nhà dân để làm cơ sở khám chữa bệnh và 11 trạm y tế đã xuống cấp nghiêm trọng, cần được cải tạo. Toàn tỉnh có 208 bác sỹ, chiếm 4,89 bác sỹ/vạn dân; tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt 57,75%; 25,2% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; 15,38 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt 68%.
c) Về các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch
Tổ chức các buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, đặc biệt phục vụ lễ mít tinh kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.
Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng và các ngành liên quan tổ chức thành công Liên hoan dân ca Việt Nam lần thứ IV khu vực Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước năm 2011. Trong 9 tháng đầu năm đã tổ chức 03 giải thể thao cấp tỉnh: giải Việt dã tỉnh Đăk Nông lần thứ VII; giải vô địch bóng đá nam tỉnh Đăk Nông lần thứ IV; giải Vô địch Đẩy gậy - Kéo co tỉnh Đăk Nông lần thứ IV.
Công tác quảng bá du lịch: Tổ chức nhiều chương trình, sự kiện xúc tiến quảng bá du lịch địa phương. Bên cạnh đó, một số dự án đầu tư du lịch đã triển khai đầu tư xây dựng, hình thành các khu điểm du lịch phục vụ du khách; trong đó, có các khu du lịch trọng điểm đang triển khai đầu tư: Dự án đầu tư Thiền Viện Đạo Nguyên, khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly, thác Đăk G’Lun...
Tổng lượt khách du lịch trong 9 tháng đầu năm đạt 85.000 lượt; trong đó khách quốc tế đạt 3.700 lượt. Tổng lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ 9 tháng đầu năm đạt 55.000 lượt, chiếm 64,7% trong tổng cơ cấu khách.
e) Công tác lao động thương binh và xã hội
Trong 9 tháng đầu năm tạo việc làm cho 12.980 người, đạt 76,35% kế hoạch; đào tạo nghề cho 8.264 người, đạt 87,17% kế hoạch. Toàn tỉnh có 26 cơ sở dạy nghề và có chức năng dạy nghề; tuy nhiên, mới có 9 cơ sở được cấp phép hoạt động dạy nghề.
Theo kết quả điều tra hộ nghèo trên phạm vi toàn tỉnh năm 2010 có 33.674 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 29,25%; hộ cận nghèo có 8.063 hộ, chiếm tỷ lệ 7%. Tổ chức khảo sát dự án mô hình giảm nghèo tại các huyện Tuy Đức, Đắk G’Long, Đắk Song và Krông Nô để đầu tư hỗ trợ giống, vật nuôi, cây trồng cho các hộ nghèo. Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ về nhà ở giai đoạn II năm 2011 cho 491 hộ nghèo.
Công tác chăm sóc đối tượng chính sách, người có công đã được quan tâm, đặc biệt trong việc huy động quỹ đền ơn, đáp nghĩa; công tác thanh, kiểm tra các cơ sở dịch vụ cũng như việc rà soát, phân loại các đối tượng nghiện ma tuý, gái mại dâm được đẩy mạnh, hạn chế sự lây lan, phát triển các tệ nạn xã hội.
f) Công tác Phát thanh - Truyền hình
Đã tập trung tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kịp thời phản ánh những vấn đề mang tính thời sự của địa phương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng. Chuyên mục “Hộp thư truyền hình” và tiểu mục “ Người quan sát” đã phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của nhân dân.
Bên cạnh việc tuyên truyền tình hình kinh tế - xã hội, an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh và những ngày lễ lớn còn tập trung tuyên truyền Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
g) Chính sách dân tộc, tôn giáo:
Đắk Nông có 40 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn tỉnh, dân tộc thiểu số khoảng 158.905 người, chiếm tỷ lệ 31,14% so với tổng dân số toàn tỉnh. Có 03 dân tộc tại chỗ (M’Nông, Mạ, Ê đê) khoảng 54.096 người, chiếm 34,04% so với tổng số dân tộc thiểu số và chiếm 10,6% so với dân số toàn tỉnh.
Trong những năm qua được sự quan tâm đầu tư các chương trình, dự án, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tình hình đời sống kinh tế - xã hội, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung đã có những bước chuyển biến về nhiều mặt. Thông qua nhiều chính sách dân tộc như: Chương trình hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt, Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, Chương trình tiếp tục xây dựng và phát triển bon, buôn, thôn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống …đã góp phần nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
3. Lĩnh vực nội chính
a) Công tác tư pháp :
Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh. Điểm nổi bật trong công tác tuyên truyền 9 tháng đầu năm 2011 là các hoạt động tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, tuyên truyền phổ biến Luật Giao thông đường bộ,...Đài truyền hình tỉnh phát sóng chuyên mục “Pháp luật và cuộc sống” nhằm kịp thời phổ biến các quy định của pháp luật, tư vấn, giải đáp pháp luật để nhân dân vận dụng tốt vào cuộc sống.
Công tác quản lý, đăng ký hộ tịch được thực hiện nhanh chóng, đúng pháp luật. Hoạt động công chứng, chứng thực được thực hiện tương đối tốt; công tác chứng thực ở các huyện, thị xã nhìn chung đáp ứng yêu cầu của tổ chức và công dân.
Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL tiếp tục được chú trọng. Công tác xây dựng, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật: Đã thẩm định, góp ý 17 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, góp ý 02 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương. Qua thẩm định, góp ý góp phần đảm bảo văn bản ban hành đúng thẩm quyền, thể thức, nội dung văn bản phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác của các cơ quan có thẩm quyền.
b) Thực hiện công tác cải cách hành chính:
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã có những chuyển biến rõ nét, tích cực; đã rà soát, bãi bỏ được các thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, loại bỏ được những khâu trung gian, những giấy tờ không cần thiết, rút ngắn thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Thủ tục hành chính được công khai, minh bạch; người dân và tổ chức cơ bản đã hiểu rõ được trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với công việc hành chính và trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của công dân với chính quyền, qua đó góp phần ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động của một bộ phận cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ, giảm được phiền hà và chi phí cho công dân, tổ chức khi quan hệ với chính quyền, không phải đi lại nhiều nơi, nhiều lần như trước. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số ít cơ quan đơn vị còn xem nhẹ công tải cải cách thủ tục hành chính, bố trí cán bộ thiếu kinh nghiệm, năng lực chuyên môn, đạo đức nên hướng dẫn, giải quyết công việc chưa tận tình, thấu đáo cần phải tiếp tục chấn chỉnh.
c) Công tác trật tự an toàn xã hội:
Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh có chiều hướng tăng; trong 8 tháng đầu năm đã xảy ra 40 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết, 17 người bị thương; tăng 27,5% số vụ, 26,2% số người chết và 64% số người bị thương so với cùng kỳ năm 2010.
II. Dự báo khả năng thực hiện kế hoạch năm 2011:
1. Tăng trưởng kinh tế đạt 15,19% (kế hoạch 15,22%), trong đó: nông, lâm nghiệp tăng 5,95%; công nghiệp - xây dựng tăng 28,90%; dịch vụ tăng 17,51%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn kế hoạch đề ra do một số nhà máy chậm hoàn thành theo kế hoạch như ván MDF, gỗ xẽ, giấy vener... và việc tiết kiệm chi tiêu, thắt chặt tiền tệ của Chính phủ...
2. GDP bình quân đầu người (giá hiện hành): 18,9 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng);
3. Cơ cấu kinh tế (giá hiện hành): Ngành nông, lâm nghiệp chiếm 51,42%, công nghiệp - xây dựng chiếm 27,64%, dịch vụ chiếm 20,95%;
4. Sản lượng lương thực đạt 318.409 tấn, đạt 100,3% kế hoạch; trong đó thóc 69.034 tấn; ngô 249.375 tấn;
5. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 998 tỷ đồng, đạt 117,5% kế hoạch, tăng 33% so với năm 2010;
6. Chi ngân sách địa phương là 3.782 tỷ đồng, đạt 121,2% kế hoạch, tăng 37,3% so năm 2010;
7. Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là 7.780 tỷ đồng, đạt 95,7% kế hoạch, tăng 24,4% so với năm 2010;
8. Tổng mức hàng hoá bán lẻ trên địa bàn ước thực hiện 6.500 tỷ đồng, đạt 86,67% kế hoạch, tăng 25,41% so với năm 2010;
9. Giá trị xuất khẩu đạt 295 triệu USD (kế hoạch 280 triệu USD), trong đó xuất khẩu trên địa bàn 69 triệu USD. Giá trị nhập khẩu 20 triệu USD (kế hoạch 20 triệu USD);
10. Phát triển cơ sở hạ tầng: Nhựa hoá 88% (kế hoạch 90%) đường tỉnh, 67% đường huyện (kế hoạch 70%); 55% số bon, buôn có 1-2km đường nhựa (kế hoạch 55%); đảm bảo nguồn nước tưới cho 50% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới (kế hoạch 50%);
11. Tỷ lệ số bon, buôn có điện lưới quốc gia 98,46% (kế hoạch 100%), do qua rà soát có 11 thôn/bon mới chia tách chưa có điện; hộ được sử dụng điện 91% (kế hoạch 91%);
12. Tỷ lệ phổ cập THCS xã, phường, thị trấn 100% (kế hoạch 100%); tỷ lệ trường ở các cấp học được công nhận đạt chuẩn quốc gia 17,28% (kế hoạch 18%); Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo 95% (kế hoạch 95%);
13. Tỷ lệ xã, thị trấn có trạm y tế đạt 100% (kế hoạch 100%); số giường bệnh trên một vạn dân 16 gường (kế hoạch 17,27 gường); số bác sỹ trên một vạn dân là 4,91 bác sỹ (kế hoạch 4,91); tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đạt 25,2% (kế hoạch 26,2%); Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt hơn 95% (kế hoạch 95%); tỷ lệ xã chuẩn quốc gia về y tế đạt 36,6 (tiêu chí mới);
14. Mức giảm tỷ lệ sinh 01%o (kế hoạch 01%o), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,55% (kế hoạch 1,63%);
15. Số lao động được giải quyết việc làm 17.000 người, đạt 100% kế hoạch; đào tạo nghề đạt 9.480 người, đạt 100% kế hoạch;
16. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 74% (kế hoạch 74%);
17. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,71% còn 26,54% (kế hoạch 3%);
18. Tỷ lệ xã có đài truyền thanh cơ sở 95,8% (kế hoạch 100%); tỷ lệ xã, phường, thị trấn văn hoá đạt 10% (kế hoạch 7,04%); tỷ lệ bon/buôn tổ dân phố văn hoá đạt 56% (kế hoạch 61%); tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa 71% (kế hoạch 81%); cơ quan văn hóa đạt 77% (kế hoạch 91%); phủ sóng trình hình bon buôn đạt 100% (kế hoạch 100%).
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 3 THÁNG CUỐI NĂM 2011
Để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách trong những tháng cuối năm 2011 và chuẩn bị tốt cho kế hoạch năm 2012, tỉnh cần tập trung chỉ đạo và sự nổ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh với một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống nhân dân.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận cao của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong việc tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường công tác thông tin về các chủ trương, chính sách của nhà nước, cung cấp thông tin chính xác về tình hình biến động thị trường; tránh thông tin sai lệch, gây tâm lý bất an trong xã hội.
- Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân thu hoạch cà phê đảm bảo chất lượng, chống thất thoát, chế biến và bảo quản sau thu hoạch, thời điểm tiêu thụ sản phẩm. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, rà soát sửa chữa các công trình thủy lợi để đảm bảo nguồn nước tưới trong mùa khô.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, giá vật tư nông nghiệp đầu vào và đề xuất những phương án hỗ trợ để giảm bớt khó khăn, tăng thu nhập, tích lũy và tăng cường đầu tư cho sản xuất. Chủ động hơn nữa trong công tác phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi; kiểm soát giết mổ, vận chuyển, mua bán gia súc, gia cầm và vệ sinh an toàn thực phẩm. Nghiên cứu đề xuất hỗ trợ con giống, thuốc phòng chống dịch bệnh để phát triển đàn gia súc, gia cầm phục vụ nhu cầu Tết nguyên đán.
- Xử lý nghiêm những vụ vi phạm lâm luật, có chế tài xử lý và nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, lực lượng kiểm lâm và chính quyền sở tại; ngăn chặn việc phá rừng làm nương rẫy; chuẩn bị công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô. Xây dựng Đề án để nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng, đất rừng, công nghiệp chế biến gỗ; chính sách khuyến khích các hộ nuôi các loại đặc sản rừng được phép nuôi theo quy mô trang trại.
- Rà soát, nắm bắt tình hình sản xuất, tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn, phối hợp với các đơn vị liên quan kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thi công đưa dự án vào sản xuất; đặc biệt đối với các dự án như: Nhà máy MDF Long Việt, Nhà máy Thủy điện Đắk R’Tih,... Vì đây là những sản phẩm có đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đồng thời, tiến hành rà soát và đề xuất thu hồi các dự án đã có chủ trương đầu tư, nhưng đã quá thời hạn theo quy định, không khả thi và vi phạm pháp luật.
- Tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm soát giá cả thị trường, kiểm soát việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết. Kiên quyết không để tình trạng lạm dụng sự biến động của thị trường để đầu cơ, tăng giá, trục lợi bất chính; bảo đảm cân đối cung - cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; có chính sách hỗ trợ người nghèo, hộ gia đình chính sách chịu sự ảnh hưởng của chính sách điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường.
- Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân được vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chủ động áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng tín dụng và năng lực tài chính; kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn chủ động cân đối nguồn vốn, ưu tiên cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vay vốn ngân hàng.
- Tiếp tục triển khai xây dựng Chương trình nông thôn mới, tập trung chỉ đạo 06 xã điểm và 01 huyện điểm về xây dựng nông thôn mới, đào tạo tập huấn nông thôn mới cho cán bộ xã. Để quy hoạch và Đề án có chất lượng, các huyện cần cử cán bộ có chuyên môn tham gia với các Ban quản lý cấp xã, thôn ngay từ đầu; đặc biệt cần chú ý đến việc lấy ý kiến tham gia của người dân cho công tác quy hoạch. Tiếp tục kiến nghị điều chỉnh định mức kinh phí lập quy hoạch cho phù hợp, có tính khả thi cao.
- Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Chương trình hành động về phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng về địa lý, tài nguyên, khoa học kỹ thuật gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao.
2. Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, xuất khẩu.
- Các cấp, các ngành trong phạm vi chức năng cần kiểm điểm, rà soát các thủ tục hành chính, văn bản pháp lý; tổ chức, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ của một số bộ phận chuyên môn để kịp thời giải quyết, hướng dẫn, tháo gỡ các vướng mắc cho các nhà đầu tư; khẩn trương thực hiện kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư và chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2011 và những năm tiếp theo; hoàn thiện các dự án đầu tư, dự án cổng thông tin điện tử của tỉnh, … nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, tăng tính minh bạch thông tin; rà soát, tổ chức, định hướng đào tạo và trang bị kỹ thuật cho các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề cho người lao động…, gắn với mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành và quản lý của nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển doanh nghiệp và tăng đầu tư trong thời gian tới. Trước mắt tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư hoàn thành các thủ tục đầu tư các siêu thị, khu thương mại trên địa bàn tỉnh.
- Nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về vốn, thuế, nguồn lao động, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy sản xuất trên địa bàn, có chính sách ưu tiên cho các nhà máy sản xuất trên địa bàn được thu mua nông, lâm sản nguyên liệu cho các nhà máy…
- Tiến hành rà soát quỹ đất, đặc biệt những khu đất có giá trị thương mại cao, đã có định hướng quy hoạch kêu gọi đầu tư trong một số lĩnh vực cần ưu tiên xúc tiến kêu gọi như: đất cho đầu tư các siêu thị, trung tâm thương mại, các tổ chức tín dụng ngân hàng để sớm thực hiện quy hoạch, tiến hành giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch. Tiến hành quy hoạch sắp xếp và nâng cấp các chợ trung tâm của huyện lỵ, đặc biệt chợ thị xã Gia Nghĩa để tạo cảnh quan đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân buôn bán, trao đổi hàng hóa đảm bảo trật tự, vệ sinh. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cụm công nghiệp ở các huyện, đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy sớm đi vào hoạt động góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp.
3. Thực hiện tiết kiệm trong tiêu dùng; tăng cường nguồn vốn cho đầu tư phát triển và tích cực thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh.
- Thường xuyên kiểm tra các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã nghiêm túc thực hiện chế độ tự chủ tài chính; thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên và tạm dừng mua sắm mới theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.
- Các doanh nghiệp phấn đấu tiết kiệm năng lượng, vật tư và các chi phí quản lý hành chính trong kinh doanh; tìm mọi biện pháp tăng năng suất và chất lượng để giảm giá thành, bù thiệt hại do giá cả đầu vào tăng. Vận động toàn dân thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng để đầu tư cho sản xuất.
- Chủ động, linh hoạt trong thực hiện huy động vốn và cho vay tín dụng, phục vụ tốt nhu cầu sản xuất kinh doanh, xuất khẩu và ổn định đời sống.
- Kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu thuế; chủ động đề xuất các giải pháp, kế hoạch cụ thể để gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp nhằm giải quyết các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Kiên quyết thu các khoản nợ đọng thuế, thực hiện dứt điểm việc quyết toán thuế; kịp thời phát hiện những đối tượng có dấu hiệu gian lận thuế để bổ sung vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế. Phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước trên 10% so với dự toán HĐND tỉnh giao.
- Tiếp tục rà soát, bổ sung các cơ chế chính sách để kêu gọi, thu hút đầu tư, huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào các lĩnh vực có thế mạnh đã được xác định như: hạ tầng đô thị, hạ tầng khu công nghiệp, Thương mại, du lịch, tài chính... Tích cực phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình như: Đường Hồ Chí Minh đoạn qua đô thị Gia Nghĩa, nâng cấp các đoạn tuyến Quốc lộ 14, 14C, Quốc lộ 28 (đoạn tránh ngập thủy điện Đồng Nai 3 và 4).
- Hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục để tranh thủ các Bộ, Ngành Trung ương hỗ trợ vốn, tăng mức hỗ trợ vốn bổ sung có mục tiêu đối với các dự án trọng điểm như giao thông (Đường ra cửa khẩu BuPrăng, đường Đạo Nghĩa đi Quảng Khê, đường tránh đô thị Gia Nghĩa, đường từ Đắk Song đi Đắk Nang…), các dự án thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; kêu gọi các dự án ODA như: Chương trình nâng cấp đô thị Gia Nghĩa 2009-2020, hạ tầng nông thôn, y tế....
- Tập trung chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư, công trình trọng điểm của tỉnh và giải ngân vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm 2011. Các chủ đầu tư phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư; trường hợp không thực hiện hết kế hoạch vốn thì phải báo cáo để điều chỉnh chậm nhất vào tháng 10/2011, nếu chủ đầu tư nào giải ngân dưới 90% kế hoạch vốn được giao thì sẽ có biện pháp xử lý thích hợp. Tăng cường kiểm tra, rà soát; kiên quyết đề xuất cắt giảm hoặc đình hoãn những dự án đến hết tháng 9/2011 chưa giải ngân đạt 60% kế hoạch vốn đã giao để điều chuyển cho dự án có khối lượng thực hiện và giải ngân tốt, công trình trọng điểm.
4. Triển khai có hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đẩy mạnh công tác giảm nghèo.
- Tập trung triển khai hỗ trợ nhà ở cho người nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục làm tốt chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn; các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; các chương trình tín dụng chính sách xã hội. Tập trung hoàn thành các chỉ tiêu tạo việc làm, xuất khẩu lao động, giảm hộ nghèo. Thực hiện tốt Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ...
- Triển khai xây dựng chương trình thực hiện mục tiêu quốc gia giảm nghèo tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2011-2015; chương trình về thực hiện chiến lược bình đẵng giới, giai đoạn 2011-2020; đề án Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2011-2015 và triển khai đề án phát triển nghề công tác xã hội, giai đoạn 2010-2010 theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 27/02/2010 củ Thủ tướng Chính phủ.
- Tiếp tục kiểm tra, rà soát, tổng hợp tình hình học sinh đến lớp; rà soát kiểm tra cơ sở vật chất, sách, thiết bị, đồ dùng học tập cho năm học 2011-2012; kịp thời đề xuất tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện tối đa cho học sinh đến lớp, giáo viên ổn định công tác. Ngân hàng chính sách xã hội đẩy mạnh giải ngân cho vay học sinh, sinh viên và cho vay hộ nghèo theo kế hoạch, góp phần thực hiện tốt mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
5. Tăng cường quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giải quyết khiếu nại tố cáo và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.
- Tiếp tục triển khai các biện pháp nhằm thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Thực hiện nghiêm công tác phòng chống tệ nạn xã hội, thường xuyên tiến hành truy quét các tụ điểm ma túy, cờ bạc, mại dâm. Tăng cường công tác phòng chống tội phạm, công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu. Có biện pháp kiềm chế tai nạn giao thông, giải quyết tốt các điểm đen về tai nạn giao thông.
- Đẩy mạnh việc rà soát giải quyết cơ bản, dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo của công dân; trong đó chú trọng công tác giải quyết tại cơ sở; tăng cường công tác đối thoại trong giải quyết khiếu nại; Nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 07/01/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh, về việc chấn chỉnh công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
6. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành, thực hiện tốt Quy chế làm việc và chương trình công tác của UBND tỉnh.
- Tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và bảo đảm tốc độ tăng trưởng đã đề ra cho năm 2011; đồng thời triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 theo hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương là tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, ưu tiên nhiệm vụ trọng tâm, tập trung các mục tiêu chưa đạt; chủ động chuẩn bị các điều kiện và nội dung để triển khai thực hiện công việc của kế hoạch năm tới ngay trong năm nay, đặc biệt là chuẩn bị các thủ tục về đầu tư xây dựng cơ bản và giải phóng mặt bằng để có thể khởi công ngay sau khi được ghi vốn. Ngay từ kế hoạch 2012, khi bố trí kế hoạch vốn, các cấp, các ngành cần xem xét đến công tác giải phóng mặt bằng, ưu tiên bố trí vốn cho những dự án đã xong công tác giải phóng mặt bằng.
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng gọn nhẹ, ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ, thực hiện nền hành chính công khai, minh bạch.
- Hoàn thành điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Nông đến năm 2020; đẩy nhanh tiến độ lập và phê duyệt các quy hoạch ngành, sản phẩm chủ yếu phù hợp với tình hình kinh tế giai đoạn mới.
- Sớm đề ra giải pháp và chương trình hành động cụ thể để triển khai có hiệu quả các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã ban hành. Tổ chức tổng kết đánh giá các chính sách xã hội và tham mưu đề xuất thay thế bổ sung chính sách mới phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
- Phát động mạnh mẽ, sâu rộng phong trào thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2011 và có các hình thức khen thưởng, động viên kịp thời các đơn vị hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch được giao./.