Tại kỳ họp thứ 15, Hội đồng nhân dân tỉnh khoá I đã thông qua Nghị quyết số 24/2010/NQ-HĐND ngày 23 tháng 12 năm 2010 về việc thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh tỉnh Đắk Nông 2011, Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 23 tháng 12 năm 2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc thông qua dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm 2011 và Nghị quyết số 25/2010/NQ-HĐND ngày 23 tháng 12 năm 2010 về việc thông qua kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2011.
Thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh nêu trên và các thông báo kế hoạch vốn của Trung ương về cho tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 2169/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 giao kế hoạch vốn cho các địa phương và chủ đầu tư để sớm triển khai thực hiện. Ngoài ra, các nguồn vốn bổ sung trong năm như vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, trái phiếu Chính phủ,… UBND tỉnh đã có văn bản xin ý kiến Thường trực HĐND tỉnh trước khi phân bổ cho các chủ đầu tư.
Trong quá trình triển khai thực hiện, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các Sở, ngành và địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn đầu tư nhà nước; tăng cường kiểm tra, rà soát, cắt giảm, đình hoãn, điều chỉnh kế hoạch vốn theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ đối với các công trình khởi công mới, dự án không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện thấp sang các dự án hoàn thành và các dự án cần đẩy nhanh tiến độ có khối lượng thực hiện lớn (tổng kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước năm 2011 không giảm).
UBND tỉnh cũng đã ban hành nhiều văn bản và cuộc làm việc để kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương về những khó khăn, vướng mắc, những công trình đầu tư cấp bách nhưng ngân sách tỉnh không đáp ứng được, đề nghị Trung ương hỗ trợ.
Trên cơ sở tình hình thực hiện 10 tháng đầu năm và dự kiến 2 các tháng cuối năm, UBND tỉnh báo cáo đánh giá tình hình thực hiện và kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển năm 2011 như sau:
I. Tình hình huy động tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội:
Năm 2011 là năm thực hiện chủ trương tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, thắt chặt tiền tệ, giảm đầu tư công, vì vậy công tác huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh cũng gặp nhiều khó khăn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội không đạt kế hoạch đề ra, chủ yếu do việc đầu tư của khối doanh nghiệp và dân doanh đạt thấp do khó khăn về vốn, vay lãi suất quá cao. Cụ thể: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 ước đạt 7.780 tỷ đồng (kế hoạch 8.128 tỷ đồng), đạt 95,7% kế hoạch. Trong đó:
1. Nguồn vốn đầu tư thuộc NSNN do địa phương quản lý: Kế hoạch vốn NSNN do địa phương quản lý 1.245 tỷ đồng, ước thực hiện đạt 1.119 tỷ đồng, bằng 89,9% kế hoạch, bằng 14,38% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 4,5% với năm 2010.
2. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP): Kế hoạch vốn năm 2011 là 300,83 tỷ đồng, ước khối lượng thực hiện và giải ngân đến hết năm 2011 đạt 282 tỷ đồng, bằng 93,7% kế hoạch.
3. Nguồn vốn tín dụng đầu tư nhà nước: Nguồn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước và nguồn ủy thác của ngân sách tỉnh Đắk Nông 950 tỷ đồng, bằng năm 2010.
4. Nguồn vốn ODA: Kế hoạch vốn đầu tư năm 2011 là 70 tỷ đồng; ước thực hiện và giải ngân đạt 65 tỷ đồng, bằng 92,86 kế hoạch.
5. Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước ước đạt 150 tỷ đồng.
6. Nguồn vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 3.214 tỷ đồng.
7. Vốn Trung ương đầu tư trên địa bàn ước đạt 2.000 tỷ đồng.
II. Tình hình thực hiện nguồn vốn đầu tư bằng NSNN và vốn TPCP do địa phương quản lý:
1. Về thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ nguồn NSNN:
Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển bằng NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ do địa phương quản lý là 1.616 tỷ đồng; bao gồm: Vốn cân đối ngân sách địa phương 241 tỷ đồng; Trung ương hỗ trợ có mục tiêu 602 tỷ đồng; thu xổ số kiến thiết 14 tỷ đồng, vốn ODA 70 tỷ đồng, ứng Kho bạc Nhà nước 50 tỷ đồng, vốn CTMTQG 56,9 tỷ đồng. Vốn ngân sách các huyện, thị xã và huy động là 282 tỷ đồng. Vốn TPCP là 300,8 tỷ đồng.
Mặc dù tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo trong công tác thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm 2011, tăng cường công tác kiểm tra và các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tuy nhiên, do thực hiện chủ trương của Chính phủ không cho phép khởi công mới các dự án, một số nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu không còn công trình thanh toán nợ và chuyển tiếp nên không thể thanh toán được vốn dẫn đến việc giải ngân không đạt được kế hoạch đề ra. Ước giải ngân vốn đầu tư phát triển năm 2011 khoảng 1.543 tỷ đồng, đạt 95,5 % kế hoạch; cụ thể như sau:
- Nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương 241 tỷ đồng; ước giải ngân đạt 100% kế hoạch.
- Đầu tư cho y tế, giáo dục từ nguồn thu xổ số kiến thiết 14 tỷ đồng; ước giải ngân đạt 100% kế hoạch.
- Chương trình mục tiêu quốc gia 57 tỷ đồng, giải ngân khoảng 40 tỷ đồng, bằng 70,3% kế hoạch; đạt thấp chủ yếu là vốn các công trình mở mới không giải ngân được, đặc biệt là nguồn vốn chương trình MTQG về giáo dục.
- Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 602 tỷ đồng, ước giải ngân 566 tỷ đồng, đạt 94% kế hoạch. Những nguồn vốn giải ngân đạt thấp như vốn Chương trình 134 (13 tỷ đồng), đầu tư theo Quyết định 193 do Trung ương mới bổ sung vốn vào tháng 7 năm 2011.
- Nguồn ngân sách huyện, thị xã và huy động 282 tỷ đồng, ước thực hiện đạt 97% kế hoạch, do các huyện không thu đạt nguồn thu sử dụng đất.
- Các nguồn vốn khác (nguồn bổ sung các dự án ổn định dân di cư tự do, vay giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương...) 119 tỷ đồng; ước thực hiện đạt 85% kế hoạch, do nguồn vốn mới bổ sung vào các tháng giữa năm, các địa phương huy động vốn nhân dân đóng góp đầu tư giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương theo Nghị quyết số 07/2010/NQ-HĐND không đạt...
- Ước thực hiện kế hoạch vốn TPCP: Tổng kế hoạch vốn TPCP năm 2011 là 300,8 tỷ đồng. Ước khối lượng thực hiện đến hết năm đạt 93,7% kế hoạch. Vốn TPCP đầu tư cho lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế cơ bản thực hiện và giải ngân hết kế hoạch vốn được giao. Riêng lĩnh vực giáo dục do công trình thuộc lĩnh vực này có tổng mức đầu tư nhỏ, hàng năm tỉnh bố trí vốn dứt điểm để hoàn thành công trình trong năm, nên kế hoạch vốn năm 2011 chủ yếu bố trí khởi công mới công trình theo đề án được duyệt nhưng không giải ngân được do vướng mắc trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, tỉnh đã nhiều lần kiến nghị Thủ tướng Chính phủ nhưng chưa được chấp thuận.
2. Tình hình cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư.
- Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, tỉnh đã triển khai rà soát, cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ của 41 công trình với tổng số kế hoạch vốn điều chỉnh trên 115,4 tỷ đồng. Tất cả số tiền cắt giảm được chuyển sang thanh toán cho các công trình hoàn thành trong năm 2011, các công trình cấp bách, công tác giải phóng mặt bằng. Thành lập đoàn kiểm tra việc rà soát, cắt giảm điều chỉnh theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ tại các huyện, thị xã. Qua kiểm tra, đã yêu cầu UBND các huyện cắt giảm, điều chỉnh kế hoạch vốn đối với 10 công trình khởi công mới chưa thật sự cấp thiết, với số tiền điều chỉnh là 4.961 triệu đồng thuộc nguồn vốn chương trình hỗ trợ có mục tiêu để thanh toán nợ cho công trình hoàn thành. Thời gian tới, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương rà soát các dự án chưa thực sự cấp bách, chậm triển khai thực hiện để điều chỉnh cho các công trình hoàn thành, thi công vượt kế hoạch.
- Ban hành các văn bản hướng dẫn rà soát, cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư phát triển thuộc kế hoạch năm 2011, đã tháo gỡ một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP. Riêng đối với các nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia, sau khi đã rà soát, bố trí cho các công trình thanh toán nợ, chuyển tiếp, số vốn còn lại đã có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thực hiện mở mới và giải ngân nhưng đến nay vẫn chưa được chấp thuận; vì đa số các công trình thuộc nhóm chương trình đảm bảo an sinh xã hội (giáo dục và cấp nước là chủ yếu), đã triển khai thi công có khối lượng trên 50%, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng còn một số công trình đã ngừng thi công, ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
3. Đánh giá tổng quát tình hình triển khai thực hiện.
3.1. Những kết quả đạt được.
- Căn cứ Nghị quyết của HĐND tỉnh Đắk Nông năm 2011, các thông báo kế hoạch vốn năm 2011 của các Bộ, ngành Trung ương, UBND tỉnh đã tiến hành phân bổ và giao kế hoạch vốn cho các địa phương và các chủ đầu tư kịp thời, đúng cơ cấu nguồn vốn theo địa bàn, ngành, lĩnh vực và vốn phân cấp cho cấp huyện.
- Việc bố trí kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2011 đã tập trung hơn, ưu tiên thanh toán nợ, dự án chuyển tiếp; nguồn vốn được tập trung cho các dự án trọng điểm, các dự án có khả năng hoàn thành trong năm; thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy, các Đề án của HĐND tỉnh, giải quyết các vấn đề bức xúc của địa phương; công trình khởi công mới có đủ thủ tục đầu tư theo quy định.
- Việc kiểm tra tiến độ thực hiện các nguồn vốn giao đầu năm cũng được tăng cường thực hiện trong năm để điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án; dừng khởi công mới, cắt giảm các dự án không có khả năng thực hiện để bổ sung cho các dự án có khả năng hoàn thành trong năm 2011 và 2012, các dự án đang còn thiếu vốn và các dự án cần đẩy nhanh tiến độ. Ban hành các văn bản hướng dẫn rà soát, cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư phát triển thuộc kế hoạch năm 2011, đã tháo gỡ một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP.
- Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính và phân cấp trong công tác đầu tư, xây dựng được tăng cường, các chủ đầu tư chủ động hơn trong quá trình triển khai thực hiện. Chính phủ cho phép điều chuyển vốn trong phạm vi danh mục dự án đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng được tăng cường, đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 18/7/2011 của UBND tỉnh về việc chấn chỉnh và tăng cường quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, góp phần hoàn thành kế hoạch và nâng cao hiệu quả đầu tư.
- Một số chủ đầu tư đã có nhiều cố gắng, chú trọng đến công tác đầu tư xây dựng, nâng cao trình độ cán bộ làm công tác đầu tư xây dựng nên công việc triển khai được chủ động hơn; các khó khăn vướng mắc sớm được giải quyết.
3.2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển năm 2011 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:
- Việc đề xuất cấp thẩm quyền cho chủ trương đầu tư chưa thật sự bám sát quy hoạch, theo định hướng phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, chưa tính chắc được nguồn vốn và tính khả thi của phương án giải phóng mặt bằng, vì vậy, chưa chủ động để bố trí nguồn vốn kế hoạch ngay từ đầu năm; nhiều nguồn vốn còn để thông báo sau.
- Các chủ đầu tư chưa thực sự quyết liệt trong việc đôn đốc, kiểm tra đẩy nhanh tiến độ thực hiện, xử lý chậm tiến độ, phó thác cho đơn vị tư vấn. Qua kiểm tra thực tế tại một số địa phương, một số huyện vẫn chưa kiên quyết cắt giảm, điều chuyển và ngừng khởi công mới với các dự án theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 11/NQ-CP và Nghị quyết số 83/NQ-CP của Chính phủ.
- Công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của dự án.
- Việc phân cấp cho các địa phương quyết định đầu tư, phê duyệt dự án và phân bổ, quản lý vốn đầu tư cụ thể cho dự án dẫn đến nhiều địa phương quyết định đầu tư quá dàn trải, vượt khả năng cân đối vốn, kéo dài thời gian thực hiện, đầu tư nhỏ lẻ, thiếu tập trung cho công trình trọng điểm, công trình có sự gắn kết liên vùng, có các tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của địa phương.
- Nhiều chủ đầu tư chưa chấp hành tốt quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Công tác lựa chọn nhà thầu tư vấn và xây dựng chưa chặt chẽ, tính cạnh tranh trong công tác đấu thầu không cao, một số đơn vị thi công thiếu năng lực dẫn đến thi công kéo dài.
- Công tác giám sát đầu tư xây dựng: Các chủ đầu tư chưa quan tâm đúng mức đến công tác giám sát, đánh giá đầu tư. Báo cáo của các chủ đầu tư chưa kịp thời và thường xuyên, số liệu không đầy đủ, thiếu các thông tin chi tiết, chưa phân tích đánh giá tình hình cụ thể và đề xuất các biện pháp. Việc cập nhật cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ báo cáo giám sát đầu tư còn chậm nên chất lượng giám sát chưa cao, công tác đánh giá đầu tư chưa xác thực. Việc tổ chức giám sát cộng đồng còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa phối hợp tốt công tác giám sát của nhà nước với giám sát cộng đồng trong quản lý chất lượng công trình.
- Việc giải ngân vốn đầu tư năm 2011 mặc dù được thường xuyên đôn đốc, nhưng nhìn chung các chủ đầu tư chưa quan tâm xử lý kịp thời việc thanh toán khối lượng thực hiện, tạm ứng vốn cho các nhà thầu chiếm tỷ lệ lớn. Khối lượng giải ngân chủ yếu dồn vào các tháng cuối năm.
- Việc thanh quyết toán, tất toán công trình hoàn thành, nhiều chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện dứt điểm, ảnh hưởng đến việc bố trí vốn thanh toán cho công trình.
- Nhiều cơ quan chức năng, chủ đầu tư thực hiện chưa đầy đủ, kịp thời chế độ báo cáo định kỳ và các báo cáo khác theo yêu cầu chỉ đạo, điều hành của các Bộ, ngành Trung ương, của tỉnh; chất lượng báo cáo chưa tốt gây khó khăn cho cơ quan tổng hợp và tham mưu.
* Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các tồn tại nêu trên:
- Công tác quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị đầu tư chưa được quan tâm đúng mức. Năng lực một số chủ đầu tư và đơn vị tư vấn chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Các chủ đầu tư chưa thường xuyên quan tâm đôn đốc, kiểm tra đẩy nhanh tiến độ thực hiện; xử lý chậm tiến độ chưa cương quyết. Một số chủ đầu tư thiếu cán bộ có chuyên môn về công tác đầu tư xây dựng nên lúng túng trong quá trình quản lý, triển khai thực hiện dự án.
- Nghị định số 69 của Chính phủ quy định bổ sung về giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có hiệu lực từ ngày 01/10/2010 dẫn đến thiếu vốn để bồi thường giải phóng mặt bằng làm cho dự án chậm tiến độ. Nhiều dự án đã hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư nhưng chưa được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư và phải tính toán lại chính sách hỗ trợ, bồi thường, tái định cư theo Nghị định mới, một số dự án thiếu vốn để chi trả giải phóng mặt bằng.
- Năng lực tài chính, thiết bị, nhân lực yếu kém của một số nhà thầu cũng là nguyên nhân làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
- Việc tham mưu, ban hành các cơ chế chính sách cụ thể để huy động vốn đầu tư toàn xã hội chưa được quan tâm đúng mức, kết quả còn rất hạn chế./.