Thứ Bảy, 19-05-2012

Danh lam thắng cảnh

Di tích lịch sử

Khu vui chơi giải trí

Bản đồ du lịch

Di tích lịch sử Ngục Đăk Mil (1940-1943)

Di tích lịch sử Ngục Đắk Mil hiện nay thuộc địa phận Thôn 9A, xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Lịch sử Ngục Đắk Mil gắn liền với Di tích lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột, một di tích Quốc gia đã được công nhân ngày 10/7/1980 theo Quyết định số 92/B.VHTT.

      NGUC2.jpg

    Khi thực dân Pháp rời tỉnh lỵ Đắk Lắk từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột năm 1904, chúng đã cho xây ngày một trại giam ở Buôn Ma Thuột. Ban đầu nhà tù này dùng để giam những người dân địa phương chống lại sự bắt xâu nộp thuế cho chúng, dần dần, chúng mở rộng nơi này thành Nhà đày Buôn Ma Thuột (Penitencier de Buon Ma Thuot) để giam giữ và đày ải các chiến sỹ cách mạng bị bắt trong các phong trào cách mạng từ các nơi đến, nhất là sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931).
 
     Năm 1940, do số lượng tù chính trị tại Nhà đày Buôn Ma Thuột ngày càng đông và để phục vụ thi công tuyến đường xuyên qua cao nguyên M’Nông, thực dân Pháp lập thêm một nhà ngục ở Đắk Mil. Thêm một địa ngục trần gian nữa được dựng lên trên vùng đất Tây Nguyên đối với những chủ nhân kiên cường mà chúng đã và đang ra sức đàn áp, mua chuộc, dụ dỗ… hòng chiếm quyền sở hữu vùng đất quan trọng và trù phú này.
 
     Ngục Đắk Mil được xây dựng trên một khoảnh đất nhỏ trong khu rừng già gần trung tâm Đại lý Đắk Mil (tên huyện Đăk Mil lúc bấy giờ), gồm có 9 gian, bao quanh bằng một hàng rào gỗ chồng khít nhau và dây thép gai bên ngoài. Bên trong có 2 dãy sàn gỗ làm chỗ ngủ cho tù nhân và một lối đi ở giữa, có đủ cùm chân, xiềng tay.
 
    Ngục Đắk Mil giam giữ một phần tù nhân chuyển từ Nhà đày Buôn Ma Thuột tới. Đầu tháng 11/1941, đoàn tù đầu tiên bị đày tới ngục Đắk Mil gồm 45 tù nhân. Sau đó, số tù nhân dần tăng lên 120 người. Tại đây, ngoài công việc lao dịch nặng nề, dưới những trận roi tàn bạo của sếp lao, cai ngục, anh em tù nhân còn phải sống trong khí hậu của một vùng “rừng thiêng nước độc”. Ngoài giờ đi làm, tối về ngủ, tù nhân phải tra chân vào cùm và có lính khố xanh canh gác.
 
     Ngay sau khi bị đày tới Ngục Đắk Mil, các tù nhân đã lựa chọn và bầu ra Ban chỉ đạo đầu tiên của nhà ngục gồm các đồng chí Trần Văn Quang, Nguyễn Tạo, Kinh, Hòa, Trinh, Bửu, Toàn… đồng thời đề ra chủ trương trong giai đoạn này là nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu, chống đàn áp, bảo về quyền lợi của tù nhân và tổ chức vượt ngục.
 
     Đầu năm 1942, tù nhân đấu tranh thắng lợi, tổ chức được Tết đầu tiên ở nhà ngục, đòi hỏi được nghỉ 3 ngày, được diễn tuồng, ngâm thơ, đánh cờ tướng và trang trí câu đối Tết.
 
     Cuối tháng 6/1942, tù nhân Ngục Đắk Mil thành công trong việc phá lò gạch của địch, 38.000/40.000 viên gạch ra lò bị hỏng, góp phần phá vỡ kế hoạch mở rộng nhà ngục của địch.
 
      Năm 1943, một chi bộ cộng sản được thành lập trong Ngục Đắk Mil do đồng chí Nguyễn Tạo làm Bí thư. Có thể nói, từ đây, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã chịu ảnh hưởng và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
 
      Chi bộ cộng sản ra đời trong nhà ngục Đắk Mil xác định nhiệm vụ: Tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong tù để bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần cho tù nhân; Giáo dục, bồi dưỡng đảng viên và tù nhân về lý tưởng cách mạng, phương pháp hoạt động nhằm giữ vững khí tiết cộng sản và chuẩn bị hoạt động sau khi ra tù; Tiến hành móc nối, xây dựng cơ sở cách mạng trong nhà tù và vùng xung quanh, trước hết là trong binh lính và quần chúng người dân tộc thiểu số tại địa phương; Tổ chức các cuộc vượt ngục, đưa cán bộ về cho Đảng và phong trào cách mạng.
 
      Chi bộ cộng sản trong nhà ngục Đắk Mil đã tổ chức đấu tranh kiên cường chống chế độ hà khắc, chống đàn áp, giữ vững khí tiết cộng sản. Tháng 3/1943, các đồng chí Nguyễn Tạo, Trương Vân Lĩnh, Chu Huệ, Trần Ngọc Oánh đã tổ chức vượt ngục thành công. Cuộc vượt ngục thứ hai do các đồng chí Nguyễn Khải, Trần Tống, Nhân cũng được tổ chức thành công bằng cách lợi dụng sơ hở của địch, trốn vào bồn đi lấy nước. Tuy nhiên, sau đó, vào tháng 6/1943 địch đã bắt và bắn chết 4 tù nhân đẩy xe đi lấy nước là Hãng, Mai, Diệp, Liễn để khủng bố tù nhân và ngăn chặn các vụ vượt ngục tiếp theo.
 
     Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp là đày ải những chiến sỹ cách mạng nhằm cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài và thi hành chính sách lao tù hà khắc, cộng với khí hậu nơi rừng thiêng nước độc để giết dần, giết mòn những chiến sỹ cộng sản. Nhưng những chiến sỹ cách mạng không chỉ biến nhà tù thành trường học đấu tranh cách mạng, rèn luyện khí tiết mà hơn thế nữa, vượt ra khỏi chế độ lao tù hà khắc, họ đã gieo những hạt giống, những tư tưởng cộng sản trên mỗi mảnh đất quê hương nơi đặt chân tới.
 
      Không khuất phục được ý chí kiên cường của những người tù Cộng sản, không thực hiện được âm mưu xây dựng kiên cố và mở rộng nhà tù, cuối năm 1943, thực dân Pháp phải chuyển toàn bộ số tù nhân ở Ngục Đăk Mil về lại Nhà đày Ban Mê Thuột và cho phá hủy Ngục Đăk Mil.
 
      NGUC3.jpgGần 03 năm tồn tại, Ngục Đắk Mil đã từng là nơi giam giữ một số chiến sỹ cách mạng ưu tú như: Đ/c Nguyễn Tạo – Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm Nghiệp; Đ/c Hoàng Anh – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính; Đ/c Võ Bẩm –Thiếu tướng, nguyên Trưởng đoàn Binh đoàn Trường Sơn năm 1959; Đ/c Trần Hữu Dực – Nguyên là Phó Thủ tướng Chính phủ; Đ/c Nguyễn Đức Dương – Nguyên là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Đ/c Nguyễn Thành Hãn – Nguyên là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam; Đ/c Trần Văn Quế - Nguyên Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp; Đ/c Trần Hoài Quang – Nguyên Khu ủy viên Việt Bắc; Đ/c Trần Văn Quang –Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyên Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam; Đ/c Nguyễn Hữu Khiếu  - Nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động; Đ/c Trần Sâm –Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bộ trưởng Bộ Vật tư; Đ/c Trần Tống – Nguyên Phó Ban Lịch sử TW, Bộ trưởng Bộ Trung học và Đại học chuyên nghiệp; Đ/c Nguyễn Đình Tuy – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Bộ Giao Thông Vận tải; Đ/c Ngô Thuyền – Nguyên là Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra TW; Đ/c Lê Nam Thắng –Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV, nguyên Phó Ban Thanh tra Bộ Quốc phòng; Đ/c Trần Thọ - Thượng tướng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần…
 
     Ngục Đắk Mil là dấu tích tội ác của thực dân Pháp xâm lược đối với nhân dân Việt Nam còn tồn tại trên mảnh đất Đắk Nông. Ngục Đắk Mil còn là địa chỉ đỏ phản ánh ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của các chiến sỹ cách mạng, dù bị kẻ địch hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần vẫn hiên ngang khí tiết kiên trung, thà chết chứ không nao núng, không đầu hàng trước kẻ thù hiểm ác. Nơi đây còn là bằng chứng của sự thất bại nặng nề trong việc mở rộng mạng lưới cai trị vùng đồng bào M’Nông của thực dân Pháp. Từ đây, ánh sáng và lý tưởng cách mạng đã đến với vùng Tây Nguyên xa xôi, dìu dắt nhân dân các dân tộc địa phương tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa 1945 thành công, là cơ sở và tiền đề cho đại thắng mùa xuân năm 1975. Ngục Đắk Mil đã khẳng định tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em trong nước, giữa miền ngược và miền xuôi, giữa đồng bào Kinh – Thượng, nhất là trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
 
     NGUC.jpgTrải qua một thời gian dài, nhà ngục Đắk Mil đã bị đổ nát và trở thành phế tích. Sau nhiều đợt xác minh, sưu tầm các hiện vật và tìm gặp các tù chính trị còn sống, năm 2004 hồ sơ khoa học lịch sử ngục Đắk Mil được xây dựng hoàn thiện và năm 2005 được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 11/2005/QĐ-BVHTT, ngày 17/3/2005.
 
     Ngày 31/12/2010, sau hơn hai năm tiến hành trùng tu, tỉnh Đắk Nông đã hoàn thành việc khôi phục, xây dựng Di tích lịch sử quốc gia Ngục Đắk Mil tại thôn 9A, xã Đắk Lao (Đắk Mil). Công trình do Bộ VHTT&DL đầu tư với tổng kinh phí trên 9 tỷ đồng. Toàn bộ di tích nằm giữa khu dân cư đông đúc với diện tích khoảng gần 1 ha, với 2 hạng mục chính là nhà ngục và nhà trưng bày các hiện vật. Nhà ngục đã được tái hiện lại với diện tích tương tự nhà ngục trước đây thực dân Pháp đã dựng nên, hiện vẫn còn nền móng cũ.
 
    Ngày nay, để đến được Di tích lịch sử Ngục Đăk Mil, du khách đến trung tâm thị trấn huyện Đăk Mil, ngay giao điểm của Quốc lộ 14 và Quốc lộ 14C, theo Quốc lộ 14C khoảng 01 km, đến Hồ Đăk Ken, rẽ phải khoảng 200m là chúng ta đến khu di tích, để mỗi chúng ta hiểu thêm chế độ hà khắc của nhà tù thực dân, để ôn lại truyền thống bất khuất, kiên cường của các thế hệ cha anh đi trước và để càng yêu hơn, có trách nhiệm hơn đối với xã hội hôm nay./.
N.T (t/h)

 

Bản đồ hành chính

Website đơn vị

E-mail (@daknong.gov.vn)