Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Tin tức > Chính quyền > Posts
Báo cáo kinh tế xã hộiThứ 3, Ngày 08/01/2013, 17:25

Báo cáo tổng kết công tác ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013

Theo báo cáo số 1435/BC-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm qua ngành nông nghiệp đã triển khai thực hiện các nhiệm vụ và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2013 cụ thể như sau:

Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012:


- Về công tác chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ trong tâm thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và phát triển nông thôn:


1. Trồng trọt - bảo vệ thực vật
 1.1. Sản xuất nông nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển biến theo hướng chất lượng cao, ứng dụng công nghệ sinh học, cơ giới hoá. Năm 2012 sản xuất nông nghiệp tương đối thuận lợi, kết quả đạt được khá cao:
- Tổng diện tích gieo trồng 295.281 ha/261.000 ha, đạt 113,13% KH, tăng 30.358 ha so với năm 2011.
- Tổng Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 346.729 tấn/341.905 tấn, bằng 101,41% KH (trong đó; lúa nước:  66.418 tấn, lúa cạn: 380 tấn; Ngô: 279.940 tấn), tăng 25.979 tấn so với năm 2011.
- Đậu tương đạt 12.453 ha/16.200 ha, bằng 76,87% KH, sản lượng ước: 13.745 tấn/34.000 tấn đạt 40,42% KH.
- Mía gieo trồng 561 ha/850 ha, đạt 66% KH, sản lượng ước 39.286 tấn/50.660 tấn, bằng 77,54% KH.
- Bông vải gieo trồng 953 ha/1.000, đạt 95,3% KH, sản lượng ước 1.546 tấn/1.620 tấn KH, đạt 95,43% KH.
- Cao su ước: 28.978 ha/26.500 ha, đạt 109,35% KH; sản lượng mủ tươi ước 13.546 tấn/12.000 tấn KH, đạt: 113,03% KH.
- Cà phê ước 114.725 ha/78.000 ha, đạt 148,08% KH, sản lượng ước 210.000 tấn/143.000 tấn, đạt: 146.85% KH.
- Hồ tiêu ước 8.356 ha/8.000 ha KH, bằng 104,45% KH, sản lượng ước 13.479 tấn/13.757 tấn, đạt 97,97% KH.
- Điều ước 19.728/17.820 ha, bằng 110,7% KH, sản lượng ước 19.919 tấn/16.850 tấn, đạt 118,21% KH.
Lĩnh vực trồng trọt đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là việc áp dụng vào sản xuất các giống cây trồng mới năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, chịu được hạn… góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng trong mùa vụ (Ngô lai chiếm trên 95% diện tích gieo trồng; Lúa lai chiếm khoảng 50-60%, Lúa đặc sản 10-13% diện tích gieo cấy, ghép chồi thay thế vườn cà phê già cỗi, sử dụng các dòng cà phê vô tính đã được khu vực hóa TR4, TR5, TR9,TR10,…). Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình đem lại hiệu quả, được các doanh nghiệp và các hộ nông dân tích cực đầu tư phát triển (như: mô hình trồng rau, trồng hoa trong nhà lưới, nhà có màng che, mô hình Chanh không hạt, Măng tây xanh, Sầu riêng, Cà chua,…).


1.2. Công tác chỉ đạo phòng chống thiên tai, sâu bệnh hại:
a. Tình hình thiên tai:
* Khô hạn: trong năm xảy ra 02 đợt tiểu hạn vào giữa tháng 6/2012 và cuối tháng 8 đầu tháng 9/2012 gây ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển một số diện tích cây hoa màu, tại các huyện Krông Nô, Cư Jút: mất trắng 60 ha đậu lạc do không có củ, mất trắng 30 ha lúa. Ngoài ra, tiểu hạn còn làm chậm tiến độ gieo trồng vụ Thu đông ảnh hưởng đến sản xuất chung toàn tỉnh.
* Ngập lụt: Do ảnh hưởng của các đợt mưa bão, áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn, liên tục xảy tra trên địa bàn toàn tỉnh; Tuy nhiên, do có kế hoạch phòng chống trước nên không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của các loại cây trồng.
b. Tình hình sâu bệnh hại:
Do làm tốt công tác điều tra dự tính dự báo, xây dựng kế hoạch và có biện pháp chỉ đạo phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ sâu bệnh hại không ảnh hưởng nhiều đến năng xuất của các loại cây trồng. Đối với cây lúa do được củng cố hệ thống bẫy đèn trên các cánh đồng chính để hướng dẫn phòng trừ kịp thời, nên rầy nâu không phát sinh thành dịch gây hại trên diện rộng.
- Vào khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3, châu chấu tiếp tục xuất hiện và gây hại trên diện tích khoảng 500 - 700 ha, mật độ khoảng 3-5 con/m2, tập trung chủ yếu ở bờ cỏ ven đường, bờ cây ven suối và trên các loại cây trồng vụ Hè thu (ngô, đậu đỗ,…). Tập trung tại địa bàn xã Đăk N’Rot và một số vùng lân cận thuộc các xã Đăk R’La, Đăk Gằn, Đức Mạnh,... huyện Đăk Mil; Sở Nông nghiệp& PTNT đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương theo dõi, hướng dẫn phòng trừ kịp thời.
Tại huyện Cư Jút: do đợt gió Tây Nam kết hợp với điều kiện thời tiết thuận lợi, Châu chấu đã di trú từ huyện Đăk Mil sang gây hại tại các xã Đăk Rông, Cư Knia, Nam Dong, EaPô, Đăk Wil. Diện tích Châu chấu xuất hiện rải rác khoảng 150 ha trên các loại cây trồng vụ Thu đông (đậu đỗ, ngô, mì (sắn),...). Mật độ rải rác trung bình 1 - 2 con/m2, cá biệt một số diện tích mật độ khá cao từ 5 - 10 con/m2; Chủ yếu Châu chấu tuổi 5 - 6. Chi cục Bảo vệ thực vật, Trạm BVTV huyện kịp thời cử cán bộ theo dõi, hướng dẫn bà con nông dân các biện pháp phòng trừ, không để Châu chấu phát sinh lây lan thành dịch trên diện rộng.


2. Chăn nuôi, thủy sản:
2.1. Chăn nuôi:
Nhìn chung trong năm 2012, tổng đàn gia súc, gia cầm không đạt so với kế hoạch. Nguyên nhân: Diện tích các cây trồng phát triển (Cà phê, Tiêu, Cao su..) làm giảm diện tích đồng cỏ tự nhiên, dẫn đến đàn bò thiếu thức ăn trong 6 tháng mùa khô; Người nông dân thiếu vốn để đầu tư mua bò giống; vòng quay thu hồi vốn đầu tư chăn nuôi bò dài, do đó người dân ít đầu tư chăn nuôi bò; Dịch bệnh thường xuyên tiềm ẩn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao trong khi sản phẩm thịt trong chăn nuôi thấp, bị chi phối bởi thị trường, thương lái, do đó không khuyến khích người dân tăng đàn trong chăn nuôi, đặc biệt là việc phát triển đàn lợn và đàn gia cầm.
2.2. Thủy sản:
Hiện nay việc nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Đăk Nông chủ yếu là các loài cá truyền thống như cá mè, cá trắm, cá trôi, cá chép chiếm khoảng 70% trong đó loài nuôi nhiều nhất là cá trắm cỏ; giống thủy sản khác như cá rô phi, diêu hồng chiếm khoảng 20%; giống thủy đặc sản: cá lóc, cá bống tượng (hồ Thủy điện Đồng Nai 3), cá tầm (hồ Đăk R’Tih), cá lăng đuôi đỏ (hồ Thủy điện Đồng Nai 3), cua đồng (Krông Nô), tôm càng xanh (Đăk R’Lấp) chiếm khoảng 10%.
Diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 1.343 ha, đạt 141 % so kế hoạch, tổng sản lượng thuỷ sản của tỉnh trong năm 2012 là 3.268 tấn, đạt 121% so với kế hoạch năm. So với cùng kỳ năm 2011 diện tích nuôi trồng và tổng sản lượng đều tăng, cụ thể diện tích tăng 416 ha, tổng sản lượng tăng 723 tấn. Nguyên nhân là do tình hình thời tiết thuận lợi, lượng nước trên các ao, hồ ổn định, bà con xuống giống nuôi trồng thủy sản đảm bảo tiến độ, mặt khác hiện nay nhiều hộ nuôi trồng thủy sản tận dụng nguồn nước tại các lòng hồ thủy điện để nuôi cá lồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao do đó tổng sản lượng tăng vượt so kế hoạch.
2.3. Tình hình dịch bệnh động vật:
- Dịch bệnh nguy hiểm: Trong năm 2012 trên địa bàn tỉnh Đăk Nông đã xảy ra 01 ổ dịch lở mồm long móng tại huyện Krông Nô (từ ngày 26/12/2011 đến ngày 14/01/2012) làm 43/67 con gia súc mắc bệnh (chết 16 con), trong đó số lợn mắc bệnh là 40/62 con, số trâu mắc bệnh là 03/05 con tại 07 hộ. Ngay sau khi dịch bệnh xảy ra Chi cục Thú y đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành ngay các biện pháp chống dịch do đó dịch đã được dập tắt ngay và không lây lan sang các địa phương khác.
- Dịch bệnh thông thường: Các loại dịch bệnh hội chứng tiêu chảy ở lợn, gia cầm xảy ra nhỏ, lẻ tại địa bàn các huyện, thị xã đã được phát hiện và điều trị kịp thời nên không phát sinh thành dịch, thiệt hại không đáng kể.


3. Khuyến nông - Khuyến ngư:
3.1. Chương trình Khuyến nông Đông xuân năm 2011-2012:
Xây dựng các Mô hình trình diễn: Với kinh phí 277.453.000 đồng, gồm 3 mô hình (hoa lily, măng tây xanh, chăn nuôi gà lương phượng).
3.2. Chương trình Khuyến nông - Khuyến ngư năm 2012:
Với kinh phí 338.200.000 đồng triển khai đầu tư mô hình chăn nuôi gà J-Dabaco (quy mô 3.800 con) được triển khai tại 5 huyện, thị. Tại thị xã Gia Nghĩa và huyện Cư Jút đã tiến hành hội thảo và tổng kết mô hình, trọng lượng bình quân của gà đạt 2 kg/con/3tháng nuôi, lợi nhuận thu được đạt 57.200 đồng/con (chưa tính công lao động).
3.3. Chương trình Đề án phát triển Khuyến nông năm 2012:
Tổng kinh phí Chương trình là 4 tỷ đồng, trong đó:
- Trả phụ cấp cho đội ngũ Khuyến nông viên, Cộng tác viên khuyến nông được chi trả từ tháng 6/2012 là 3.137.494.000 đồng (Chi lương cho Khuyến nông viên 71 người, số tiền chi trả 417.480.000 đồng, Cộng tác viên khuyến nông 761 người, số tiền chi trả: 2.720.014.000 đồng).
 - Xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn, hội thảo, tham quan: (862.505.000 đồng). Đối với mô hình trình diễn: triển khai mô hình nuôi gà J-Dabaco với quy mô 2.200 con tại 3 huyện Đăk Mil, Đăk Song, Đăk Glong, qua kiểm tra sau hơn 2 tháng nuôi trọng lượng gà bình quân đạt 1,5 -1,7kg/con.
3.4. Chương trình Khuyến nông Quốc gia (nguồn ngân sách Trung ương):
Chương trình Khuyến nông Quốc gia năm 2012 có 04 mô hình trình diễn, được triển khai trên địa bàn 5 huyện, 01 thị xã với tổng kinh phí đầu tư cho mô hình 736.792.500 đồng. Gồm các mô hình:
- Mô hình trồng thâm canh ca cao năm 1 (trồng năm 2012): Triển khai tại huyện Krông Nô, kinh phí đầu tư 220.575.000 đồng, 20 hộ tham gia
- Mô hình trồng thâm canh ca cao năm 2 (trồng năm 2011): Triển khai tại huyện Tuy Đức và thị xã Gia Nghĩa với quy mô 9,5 ha, 21 hộ tham gia.
- Mô hình sản xuất cà phê bền vững được cấp GCN tại Tây Nguyên: Quy mô 30 ha được triển khai tại xã Đăk Mol và xã Đăk Hòa huyện Đăk Song, 60 hộ tham gia. Hiện các vườn cây cà phê đang ở giai đoạn chín, các hộ đang thu hoạch, năng suất trung bình ước đạt 3,5 tấn/ha.
- Mô hình trồng cây Mắc ca: Triển khai tại 2 huyện Tuy Đức va Đăk R’Lấp, quy mô 13,8 ha, 28 hộ tham gia, kinh phí 79.478.000 đồng.
 

4. Lâm nghiệp:
4.1. Chương trình bảo vệ và phát triển rừng:
a. Giao khoán QLBVR: Thực hiện 34.157,8 ha/33.049 ha, đạt 103,3 % KH.
b. Khoanh nuôi: Thực hiện 82,4 ha/82,4 ha (chuyển tiếp năm 2011), đạt 100% KH giao.
c. Trồng rừng: Thực hiện: 958,3 ha/780 ha, đạt 122,85 % KH, trong đó:
- Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 4,68 ha;
- Trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán: 953,6 ha/780 ha, đạt 122,25% KH. Trong đó:
+ Hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Hạt Kiểm lâm các huyện: 166,7 ha;
+ Doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh: 222,2 ha;
+ Trồng rừng bằng nguồn vốn Dự án Flicth: 345,4 ha;
+ Trồng rừng trên diện tích giải tỏa cộng đồng thôn Phú Lợi: 173,5 ha;
+ Trồng cây phân tán: 68.780 cây; trong đó: trồng cây 19/5 là 8.500 cây (nguồn ngân sách tỉnh cấp); trồng cây của các tổ chức, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh: 60.280 cây, tương ứng khoảng 45,8 ha.
d. Chăm sóc rừng trồng:
- Rừng phòng hộ, đặc dụng: chăm sóc đợt 1 và đợt 2 với diện tích 348,5 ha/362,1 ha, đạt 96,24 %, lý do giảm là do một số diện tích rừng trồng các năm trước bị nhổ là 8,28 ha; rừng trồng năm 2011 có tỷ lệ cây sống < 50% là 5,33 ha.
- Chăm sóc rừng trồng phân tán năm thứ 3: 6.170 cây, tương đương 4,11 ha.
4.2. Khai thác gỗ:
* Chỉ tiêu năm 2011: tổng sản lượng gỗ lớn đã khai thác là 38.920/37.000 m3, đạt 104,41% KH.
- Chỉ tiêu năm 2012: 12.800 m3, đã phê duyệt và cấp giấy phép cho Công ty TNHH MTV ĐT PT Đại Thành, trên diện tích 218,4 ha, với sản lượng gỗ lớn là 6.812,9 m3; đang kiểm tra thẩm định hồ sơ thiết kế khai thác của Công ty TNHH MTV Đăk N’Tao.
4.3. Công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng:
Kế hoạch đấu thầu đã gửi Sở Kế hoạch & ĐT thẩm định. Do nguồn vốn bố trí cho công tác này chưa đủ (còn thiếu 1.010/1.430,5 triệu đồng), do vậy công tác tổ chức đấu thầu bị chậm theo tiến độ đề ra.
4.4. Tình hình triển khai thực hiện các dự án Nông Lâm nghiệp:
a. Các dự án thuê đất, thuê rừng: Trên địa bàn tỉnh hiện có 46 doanh nghiệp/48 dự án được UBND tỉnh Đắk Lắk và UBND tỉnh Đắk Nông cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp, với tổng diện tích là 50.182,6 ha, cụ thể như sau:
- Trước năm 2004: UBND tỉnh Đắk Lắk quyết định giao đất, cho thuê đất là 07 doanh nghiệp/08 dự án, với tổng diện tích 12.199 ha.
- Từ năm 2004 đến nay: UBND tỉnh Đắk Nông quyết định giao đất, cho thuê đất là 39 doanh nghiệp/40 dự án, với tổng diện tích 37.983,6 ha.
Căn cứ kết quả triển khai thực hiện của các dự án, UBND tỉnh đã có Quyết định thu hồi đối với 12 dự án (9.024,3 ha), trong đó: 08 dự án thu hồi toàn bộ với diện tích 5.152,4 ha (gồm Công ty TNHH Mai Hưng Việt Trung; Công ty TNHH Tiến Phú; Công ty TNHH Luân Thịnh; Công ty CP TVĐT Hồng Gia Phát; Công ty CP chế biến gỗ Thăng Long; Công ty CP Đức Lộc; Công ty TNHH Hùng Đại Dương; Công ty TNHH Hào Quang tại Krông Nô); 04 dự án thu hồi một phần với diện tích 3.871,9 ha (gồm: Công ty TNHH Thịnh An Khương; Công ty TNHH Bảo Lâm;  Công ty TNHH Ngọc Thạch; Công ty CP tập đoàn giấy Tân Mai).
b. Kết quả thực hiện:
- Diện tích trồng cây: 10.061,2 ha/29.979,1 ha, đạt 33,6% so với dự án được duyệt, trong đó:
+ Trồng rừng: 7.053,8 ha/19.266,5 ha, đạt 36,6% so với dự án được duyệt;
+ Trồng Cao su: 3.007,4 ha/10.712,6 ha, đạt 28,1% so với dự án được duyệt;
- Diện tích rừng bị chặt phá trái pháp luật: 4.367,98 ha; trong đó diện tích đã xử lý 303,81 ha/4.367,98 ha đạt 6,96% và diện tích chưa xử lý 4.064,17 ha/4.367,98 ha chiếm 93,04%.
c. Đánh giá chung:
- Các đơn vị chưa triển khai thực hiện trồng các loài cây theo quy hoạch, nguyên nhân là do diện tích rừng và đất trong khu vực dự án bị người dân xâm canh, các chủ doanh nghiệp không có khả năng thu hồi lại.
- Các chủ dự án còn buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng; năng lực quản lý, điều hành dự án và chuyên môn về nông, lâm nghiệp của các chủ đầu tư còn nhiều hạn chế, chưa phối hợp tốt với các ngành chức năng để thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, dẫn đến diện tích rừng bị phá lớn.
 

5. Kiểm lâm:
  5.1. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng:
- Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với Trung tâm dự báo Khí tượng thuỷ văn và Đài Phát thanh và truyền hình tỉnh cảnh báo nguy cơ cháy rừng mùa khô 2011 - 2012 (theo 5 cấp dự báo cháy rừng do UBND tỉnh ban hành) nhằm kịp thời cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh để chính quyền địa phương và các chủ rừng chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời thẩm định phương án PCCCR mùa khô năm 2012-2013 cho 22 đơn vị chủ rừng (15 Công ty TNHH MTV; 02 Khu BTTN; 04 ban QLR và rừng phòng hộ cảnh quan QL 14).
Tuy nhiên do biến đổi khí hậu và do một số đơn vị chủ rừng chưa làm tốt công tác PCCCR nên cháy rừng vẫn xảy ra. Năm 2012 đã xảy ra 03 vụ cháy rừng tại địa bàn huyện Đăk GLong với diện tích rừng bị cháy là 2,87 ha.
5.2. Hoạt động Đoàn thực hiện Chỉ thị 12/2003/CT-TTg:
UBND các huyện, thị xã Gia Nghĩa đã củng cố duy trì hoạt động của các Ban chỉ đạo, Đoàn kiểm tra thực hiện Chỉ thị 12/CTTg.
- Mở nhiều đợt kiểm tra truy quét các đối tượng lâm tặc, các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm, mua bán, sang nhượng đất rừng trái phép, khai thác, chế biến, mua bán, sử dụng, vận chuyển trái phép lâm sản, săn bắt, tàng trữ, sử dụng động vật hoang dã. Cụ thể: Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Glong đã tham mưu cho đoàn thực hiện chỉ thị 12 của huyện, xã Đăk Ha đã tổ chức cưỡng chế giải toả thu hồi 04 ha giao lại cho xã đội xã Đăk Ha trồng lại rừng; Hạt Kiểm lâm huyện Cư Jút đã phối hợp với Công an huyện Cư Jut Kiểm tra, phát hiện 01 vụ khai thác lâm sản trái phép với tổng khối lượng: 89,672 m3 gỗ các loại...
- Đoàn 12 huyện, xã kiểm tra, rà soát, thống kế diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh tại địa phương để lập biên bản, phân loại cụ thể các đối tượng xâm canh, hoàn thiện các hồ sơ thủ tục theo qui định để tiến hành cưỡng chế giải toả và thu hồi. Đến thời điểm hiện tại mới kiểm tra, rà soát được 5.719,65 ha. Trong đó huyện Đăk R’Lấp (17,001 ha); huyện Đăk Mil (246,36 ha); thị xã Gia Nghĩa (330,4 ha); huyện Đăk Song (6,005 ha); huyện Đăk G’Long (155,69 ha); huyện Krông Nô ( 233,32 ha); Tuy Đức (4.392,58 ha); Cư Jút 338,12 ha).
5.3. Công tác QLBVR: Lực lượng Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND các huyện Cư Jút, Đăk Song, Đăk G’long và Krông nô xây dựng phương án cưỡng chế giải tỏa các đối tượng lấn chiếm rừng và đất rừng tại: tiểu khu 826 xã EaPô huyện Cư Jút (338,12 ha); khu vực rừng Phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 (6,005 ha); xã Quảng Sơn, huyện Đăk G’Long (155,7 ha) và tại rừng cộng đồng thôn Phú Lợi (173,5 ha). Đến nay, đã tổ chức cưỡng chế giải tỏa tại rừng cộng đồng thôn Phú Lợi xã Quảng Phú, huyện Krông Nô (173,5 ha).  Hiện đã có 64 hộ dân đăng ký trồng rừng với diện tích 173,5 ha đất cưỡng chế giải tỏa theo tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 1744/UBND-NN ngày 17/5/2011.
- Các vụ vi phạm QLBVR: tính đến hết tháng 11 đã phát hiện và lập biên bản xử lý 390 vụ phá rừng trái pháp luật làm thiệt hại 221,21 ha rừng. Cụ thể: Tuy Đức (34,13 ha); Cư Jút (24,89 ha); Đăk G’Long (65,82 ha); Krông Nô (17,5 ha); Đăk Song (57,73 ha); Đăk Mil (0,85 ha); Đăk R’Lấp (3,24 ha); thị xã Gia Nghĩa (17,05 ha). Điểm nóng về phá rừng tập trung chủ yếu tại địa bàn các huyện Tuy Đức, Đăk G’Long, Đăk Song;
- Hiện đã xử lý 739 vụ (bao gồm cả các vụ tồn năm 2011), trong đó xử lý hành chính 662 vụ; xử lý hình sự 01 vụ, chuyển hồ sơ tiếp tục điều tra 76 vụ.
- Lâm sản tịch thu: 2.474,824 m3 gỗ các loại.
- Phương tiện tịch thu: 105 máy móc, xe, công cụ các loại.
- Tiền thu sau xử lý: 5.354.225.000 đồng.
5.3. Về tình trạng chống người thi hành công vụ:
Trong năm 2012 đã xảy ra 01 vụ chống người thi hành công vụ Trạm BVR của Công ty TNHH MTV Nam Tây Nguyên làm bị thương 07 người, phá hủy 01 Nhà trạm QLBVR diện tích 120 m2 trong đó có 17 chiếc xe máy; 10 Cưa máy; 02 khẩu súng Rulo; 02 khẩu súng tự chế; 03 máy định vị; 02 máy phát điện; 01 máy chụp hình kỹ thuật số Nokia X50 và toàn bộ vật dụng sinh hoạt, đồ dùng cá nhân của 34 người tại nhà Trạm bị cháy, hư hỏng hoàn toàn.
 

6. Phát triển nông thôn:
6.1. Về phát triển kinh tế hợp tác và trang trại
- Về HTX: Tính đến 31/11/2012 toàn tỉnh có 80 HTX nông nghiệp, trong đó có 02 HTX được thành lập mới 2012 và đã giải thể được 02 HTX nông nghiệp
+ Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: Có 4 HTX làm dịch vụ thủy nông; 07 HTX làm dịch vụ chăn nuôi; 30 HTX Dịch vụ tổng hợp; 38 HTX Trồng trọt và dịch vụ vật tư nông nghiệp (trong 6 tháng đầu năm thành lập mới 02 HTX, giải thể 02 HTX);
+ Phân loại theo kết quả hoạt động: Có 20 HTX khá (chiếm 25%), 36 HTX trung bình (chiếm 45%), 24 HTX yếu (chiếm 30%)
+ Doanh thu bình quân trên một HTX khoảng  650 triệu đồng.
+ Lợi nhuận trung bình của 01 Hợp tác xã khoảng: 100.000.000đồng
- Về Tổ hợp tác: Hiện có 450; trong đó có: 15 tổ chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; 30 tổ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng; 115 câu lạc bộ khuyến nông; 240 tổ vay vốn; 150 tổ liên kết sản xuất (bông vải, mía đường, cao su, cà phê, trồng hoa, rau an toàn, dệt thổ cẩm);
- Về Trang trại: Số lượng trang trại: 985 trang trại; trong đó 965 trang trại trồng cây lâu năm, chiếm 98%; 02 trang trại trồng cây hàng năm; 13 trang trại chăn nuôi, chiếm 0,1% ; 02 trang trại lâm nghiệp và 03 trang trại tổng hợp. Theo tiêu chí mới (thông tư 27/2011/TT-BNN) các huyện, thị xã cấp mới, cấp đổi được khoảng 20 trang trại.
 6.2. Về quy hoạch và bố trí dân cư.
  a. Công tác di dân:
 - Theo dõi tình hình dân di cư tự do trên địa bàn toàn tỉnh để kịp thời báo cáo cấp trên giải quyết. Cụ thể: Đầu năm 2012 có 70 hộ, 211 khẩu dân DCTD của các tỉnh phía Bắc vào xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức làm ăn sinh sống. Chi cục PTNT đã phối hợp với UBND huyện Tuy Đức vận động các đối tượng này trở về que cũ.
- Chuẩn bị các thủ tục để cấp phát chế độ di dân. Dự kiến tháng 12 năm 2012 sắp xếp cho 31 hộ. (trong đó: Dự án Tiểu khu 1541, xã Đắk Ngo: 08 hộ; Dự án biên giới xã Quảng Trực: 23 hộ).
 b. Tình hình thực hiện nguồn vốn.
* Nguồn vốn sự nghiệp kinh tế : Năm 2012 UBND tỉnh giao 5.068 triệu đồng (trong đó chuyển nhiệm vụ chi từ nặm 2011 là 1.068 triệu đồng). Chi cục Phát triển nông thôn đang đôn đốc UBND huyện Tuy Đức hoàn thiện hồ sơ chứng từ chuẩn bị cấp phát. Dự kiến cấp phát cho 31 hộ; kinh phí 542 triệu đồng. Phối hợp với Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn chuẩn tổ chức lớp tập huấn, bồi dững cán bộ làm công tác bố trí dân cư năm 2012 cho 40 học viên; kinh phí 80 triệu đồng.
* Nguồn vốn đầu tư phát triển: Năm 2012, Chi cục Phát triển nông thôn được UBND tỉnh giao triển khai thực hiện Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định 193 với nguồn vốn giao: 27.553 triệu đồng. Trong đó:
-  Dự án di dời dân cư vùng ngập lụt thôn Nam Dao, xã Nâm N’Dir; Hạng mục đường giao thông đối ngoại: Năng lực thiết kế 1,887km; Kinh phí 2.498 triệu đồng. Hiện nay công trình đang thi công (đạt khoảng 30%) đã giải ngân được 930 triệu. Ước đến hết năm 2012 giải ngân 100% nguồn vốn được giao.
- Dự án ổn định dân cư tự do khu vực biên giới xã Thuận Hà, huyện Đắk Song: 25.055 triệu đồng.
* Đường sản xuất (đi khu sản xuất): Năng lực thiết kế 2,3km: Kinh phí 2.619 triệu đồng. Hiện nay đã hoàn thành, nghiệm thu, đưa vào sử dụng. Đã giải ngân 100% nguồn vốn được giao.
* Đập Đắk Tiên Tranh (Sình Cỏ) Năng lực thiết kế 70 ha lúa, 220 càphê: kinh phí 17.560 triệu đồng. Đã hoàn thành phần thân đập và đang tiến hành thi công hệ thống kênh mương. Đã giải gân được 99% nguồn vốn được giao.
* Đường giao thông đối ngoại (tuyến 2) Năng lực thiết kế  2,9 km: 4.876 triệu đồng. Đang tiến hành thi công xây dựng (đạt khoảng 50%) . Đã giải ngân được 3.410 triệu. Ước đến hết năm 2012 giải ngân 100% nguồn vốn được giao.
Nhìn chung, việc bố trí, sắp xếp ổn định dân cư trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã đạt kết quả, đa số hộ dân được bố trí sắp xếp yên tâm sinh sống và sản xuât, tin tưởng vào chính sách của Đảng, Nhà nước. Các dự án được triển khai tạo nên diện mạo mới ở nông thôn thúc đẩy phong trào xây dựng nông thôn mới, hộ dân có điều kiện để vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau: Nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương còn thấp, dự án không có vốn nên đầu tư không đồng bộ, Chủ đầu tư bị thụ động trong triển khai dự án; Tình hình dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc đến tỉnh vẫn diễn ra, các hộ dân không đi tập trung mà tách lẻ từng hộ địa phương sẽ khó phát hiện.
6.3. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
a) Triển khai xây dựng quy hoạch nông thôn mới:
  Kết quả triển khai lập quy hoạch: Hiện nay Có 61/61 xã (đạt 100%) đã phê duyệt Quy hoạch.
b) Công tác xây dựng đề án:
 - Năm 2012 trên toàn tỉnh có 61/61 xã đã triển khai lập đề án xây dựng nông thôn mới, tính đến nay có:
 + Có 19/61 xã đã phê duyệt chiếm 31,15%
 + Còn 42/61 xã dự thảo, lấy ý kiến chiếm 68,85%.
 c) Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền:
 - Công tác đào tạo, tập huấn:
  Năm 2012: Cấp huyện đã triển khai tổ chức tập huấn được 24 lớp cho 24 xã của 3 huyện (Tuy Đức, Cư Jút, Krông Nô) trên 1680 học viên tham gia. 
 - Công tác tuyên truyền vận động:
 + Đã in và cấp phát 15.000 tờ rơi, 2 phóng sự tuyên truyền được phát trên đài truyền hình tỉnh Đắk Nông và các văn bản hướng dẫn, tuyên truyên thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới cho địa phương.
 + Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức lễ Phát động “Đắk Nông chung sức xây dựng nông thôn mới”.
 + Có 4/8 huyện đã tổ chức lễ phát động và ký giao ước thi đua giữa các xã (trong đó huyện Đắk Glong đã tổ chức phát động 7/7 xã).
+ Có 1/8 huyện đã tổ chức thi tìm hiểu kiến thức về xây dựng nông thôn mới giữa các xã với nhau.
+ Có 5/8 huyện đã tổ chức đi tham quan học tập ở tỉnh ngoài.
+ Có 2/8 huyện đã ban hành kế hoạch tuyền truyền Chương trình cho cả giai đoạn;
 + Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tiếp tục phát động cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới”;
 + Tỉnh Đoàn phát động phong trào “Tuổi trẻ Đắk Nông chung tay xây dựng nông thôn mới”;
+ Ủy ban nhân dân tỉnh đã có thư kêu gọi các Sở, ban, ngành, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cá nhân đăng ký nhận đỡ đầu, tài trợ chung sức xây dựng nông thôn mới, đến nay đã có 21 cơ quan, đơn vị nhận đỡ đầu các xã xây dựng nông thôn mới.
 + Các cơ quan truyền thông, thông tin của tỉnh đã có bài viết, phóng sự đưa tin về tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh như: Đài truyền hình tỉnh, Cổng thông tin điện tử tỉnh, Báo Đắk Nông;
 

7. Công tác thủy lợi và xây dựng các công trình thủy lợi:
7.1. Tình hình thực hiện công tác quy hoạch phát triển thủy lợi:
- Dự án Quy hoạch thủy lợi vùng trọng điểm sản xuất lương thực Krông Nô được UBND tỉnh phê duyệt với tổng kinh phí 431,756 triệu đồng, hiện dự án đã được phân bổ đủ kinh phí để thực hiện. Dự án đã được hội thảo xin ý kiến và được sự thống nhất của huyện Krông Nô. Hồ sơ dự án đã được hoàn thiện và đang tiến hành thành lập hội đồng thẩm định.
- Dự án Quy hoạch chi tiết thủy lợi huyện Cư Jút giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 1587/QĐ-UBND ngày 28/11/2012. Hiện dự án đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết và thu thập số liệu liên quan để thực hiện dự án.
- Dự án Quy hoạch chi tiết thủy lợi huyện Đăk Mil giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đã được UBND tỉnh phê duyệt đề cương và dự toán.
7.2. Tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi:
Trên địa bàn tỉnh hiện có 28 công trình thủy lợi đang xây dựng, một số công trình chuyển tiếp từ các năm trước (năm 2009, 2010, 2011). Trong đó có 20 công trình được phân bổ vốn năm 2012, các công trình khi thực hiện xong sẽ đáp ứng phục vụ tưới thêm cho 1.148 ha lúa nước và 5.092 ha cà phê.
Những tháng đầu năm do giá nguyên vật liệu thường xuyên biến động, việc bố trí kinh phí cho các dự án còn chậm, sự phối hợp giữa chủ đầu tư với hội đồng đền bù chưa chặt chẽ nên việc thực hiện giải ngân vốn chậm, đến nay đã giải ngân được 89,5% kế hoạch năm (266/297 tỷ).
- Dự án Cụm CTTL Đăk Rồ- Đăk Diêr, gồm công trình CTTL Đăk Rồ, huyện Krông Nô thi công đạt 87% khối lượng công việc;
- Dự án Cụm CTTL phục vụ Đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa: gồm công trình CTTL Đập + Trạm bơm Eapô huyện Cư Jút thi công đạt 90% khối lượng công việc.
- Dự án Kè suối công viên Thiên Nga (Tây bắc) và suối Công an (Đại La), gồm 2 công trình: Kè suối Công Viên Thiên Nga thi công đạt 73% và suối Công an (Đại La) thi công đạt 79% khối lượng công việc;
* Phòng chống lụt bão:
- Tính đến tháng hết 11 năm 2012 số người chết trên địa bàn tỉnh là 28 người (chết do đuối nước 23 người, 05 người do chết do mưa lũ gây ra), bị thương 02 người; lốc xoáy làm sập đổ 05 nhà dân, tốc mái và hư hỏng nặng 199 nhà và 09 phòng học, sập đổ  625 m tường rào xây của đơn vị Đại đội Bộ binh 4 thuộc cơ quan Quân sự huyện Cư Jút; sét đánh cháy, hỏng nặng một số thiết bị của 02 Đài Phát thanh Truyền hình huyện Cư Jút; Mưa lũ làm hư hỏng cuốn trôi 13 cầu tạm tại huyện Tuy Đức, Đăk Mil và làm thiệt hại 58,5ha lúa, 105ha hoa màu cây CN, cây ăn quả. Ước tính tổng thiệt hại trong năm 2012 là trên 7,0 tỷ đồng.
- Theo dõi, đôn đốc các đơn vị, các huyện, thị khẩn trương thu nộp quỹ PCLB năm 2011, giao kế hoạch thu, nộp quỹ PCLB năm 2012 theo Nghị định 50/CP của Chính phủ; đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh đã thu nộp được 207.641.600 đồng /835.861.000 đạt  25% so với kế hoạch giao.
 

8. Công tác quản lý chất lượng:
Thực hiện Quyết định số 782/QĐ-UBND, ngày 27/6/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong đó có dự án 5 thuộc Chương trình MTQG: “Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông lâm thủy sản” giao cho Chi cục Quản lý Chất lượng  thực hiện 417 triệu đồng;
Phân bổ cho công tác Quản lý chất lượng là: 306,9 triệu đồng, kết quả thực hiện như sau:
- Tổ chức 02 lớp tập huấn về quy trình thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) tại TX. Gia Nghĩa và Cư Jút với tổng số 76 học viên tham gia, trong đó 10 học viên là cán bộ quản lý cấp huyện/thị, 66 học viên là các trang trại, hợp tác xã, hộ gia đình chăn nuôi lợn, gà trên địa bàn tỉnh; đạt 109% so với kế hoạch đề ra, cuối khoá học tất cả các học viên đều đạt yêu cầu và được cấp chứng chỉ về nội dung được đào tạo
- Tổ chức 01 lớp tập huấn về Quy phạm sản xuất tốt (GMP) và Quy phạm vệ sinh tốt (SSOP) với tổng số 50 học viên tham gia gồm các đối tượng là cán bộ quản lý và công nhân trực tiếp tham gia sản xuất tại các công ty, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh, đạt 100% kế hoạch về nội dung chương trình đề ra.
- Tổ chức 01 lớp tập huấn “hướng dẫn thực hiện một số quy định hiện hành của nhà nước về ATVSTP, thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nông nghiệp” với 35 học viên tham gia, đối tượng là các cơ sở sản xuất, chế biến, trang trại, hộ gia đình sản xuất sản phẩm nông sản, đạt 100% kế hoạch về các nội dung chương trình đề ra.
- Phát sóng trên Đài Phát thanh và truyền hình tỉnh Đăk Nông các phóng sự nhằmtruyên tuyền phổ biến, các kiến thức khoa học trong sản xuất, chế biến cũng như cách lựa chọn thực phẩm đảm bảo ATVSTP nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên phạm vi toàn tỉnh với tổng thời lượng phát thanh là 48 phút/24 lần phát; phát truyền hình là 31 phút/4 lần phát và thực hiện giới thiệu thông tin trên ấn phẩm Đăk Nông, đạt 100% kế hoạch phát sóng truyền thanh, truyền hình đề ra.
 

9. Các nhiệm vụ đã thực hiện trong năm 2012 của Trung tâm Quy hoạch KSTK NLN tỉnh Đăk Nông:
 - Hòan thành và bàn giao Dự án chuyển đổi cây Điều trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
 - Hòan thành và bàn giao Phương án thống kê xác định đối tượng tham gia dịch vụ chi trả môi trường rừng cho Qũy phát triển rừng.
 - Xây dựng và hòan thành gói thầu Định giá rừng thuộc Chi cục lâm nghiệp tỉnh.
 - Hòan thành phương án QLR bền vững của Công ty TNHH – MTV lâm nghiệp Nam Tây Nguyên.
 - Đang tiến hành và sẽ hòan thành trong năm 02 Phương án QLRBV cho 02 Công ty TNHH – MTV lâm nghiệp Gia Nghĩa & Đắk Măng.
 

 10. Công tác đào tạo, tập huấn:
Trong năm 2012, các đơn vị thuộc Sở đã tổ chức đào tạo, tập huấn cho nông dân, cộng tác viên và khuyến nông viên về các nội dung: an toàn thuốc BVTV; vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng trừ cây Mai dương, ốc bươu vàng, chuột; kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loại cây trồng; “Quản lý dịch hại tổng hợp” - IPM trên cây cà phê, hồ tiêu; “3 giảm - 3 tăng”  ICM trên cây lúa nước vụ Hè thu; công tác phòng chống ma túy và công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các vùng đã từng phát hiện có trồng cây có chất gây nghiện, nông thôn mới...
+ Tổng số lớp tập huấn đào tạo là 280 lớp, số lượt người tham gia 5.095 người, trong đó nữ 2.025 người (39,73%), và dân tộc 1.490 người (29,24%).
+ Đã tổ chức được 257 cuộc hội thảo về mô hình, vật tư nông nghiệp... với trên 6.000 lượt người tham gia.
+ In và phát hành trên 50 ngàn tờ rơi các loại về kỹ thuật thâm canh, chương trình xây dựng nông thôn mới, phòng chống dịch bệnh….
 

11. Công tác Thanh tra, kiểm tra chuyên ngành:
Kết quả kiểm tra: 
+ Cơ sở kinh doanh: 202 cơ sở; Trong đó: 199 cơ sở đủ điều kiện kinh doanh, 03 cơ sở không đủ điều kiện kinh doanh.  
+ Kiểm tra thuốc BVTV, phân bón và giống: Nhìn chung các Công ty chấp hành tốt quy định Nhà nước về nhãn hàng hóa, tuy nhiên vẫn có 06 Công ty vi phạm về nhãn mác hàng hóa; 03 đại lý không có chứng chỉ hành nghề; 01 đại lý kinh doanh hàng hóa sai nhãn mác; 01 đại lý kinh doanh hàng hóa quá hạn sử dụng; phát hiện 25 trường hợp không có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nước xuất khẩu.  
+ Kiểm tra, đánh giá, phân loại điều kiện đảm bảo chất lượng ATTP các cơ sở sản xuất, sơ chế, CBNLS: 22 cơ sở; kiểm tra cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm: 11 cơ sở; kiểm tra cơ sở trồng rau: 15 cơ sở; kiểm tra 01 cơ sở kinh doanh gạo…
    + Thanh tra đột xuất phân bón: 54 đại lý kinh doanh phân bón trên địa bàn tỉnh, tiến hành lấy 38 mẫu gửi đi kiểm nghiệm. Kết quả thanh tra đột xuất có 08 mẫu không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng;
    + Chánh Thanh tra Sở ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: 51 vụ, với tổng số tiền xử phạt là: 88,85 triệu đ; 01 vụ phạt cảnh cáo trong lĩnh vực Thú y.
    + Chánh Thanh tra Sở Tham mưu cho UBND tỉnh xử phạt vi phạm hành chính:  05 vụ với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 425.000.000đ. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đã nộp Kho bạc nhà nước đến thời điểm này là 233.000.000đ.
Về kết quả thực hiện chương trình công tác năm 2012:
Thực hiện chương trình hoá công tác, ngay từ đầu năm Sở đã trình UBND tỉnh Đăk Nông ban hành chương trình công tác năm 2012, triển khai ngay cho các đơn vị thực hiện, trong đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị chủ trì, thời gian hoàn thành xây dựng các Chương trình, đề án, dự án, cơ chế chính sách, văn bản qui phạm pháp luật.
Chương trình công tác năm 2012 của Sở Nông nghiệp & PTNT đã được phê chuẩn bao gồm 19 danh mục lớn. Từng nhiệm vụ đã được phân công cho 01 lãnh đạo Sở phụ trách, 01 đơn vị, phòng chức năng trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp thực hiện.
1. Công tác lập Quy hoạch kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng:
Tổng vốn đầu tư là 7,46 tỷ đồng, thời gian thực hiện là 24 tháng. Dự kiến đến hết tháng 3/2013 mới hoàn thành. Việc chậm tiến độ là do trong quá trình triển khai, nhận thấy số liệu qui họach 3 loại rừng trước đây (tại quyết định 702 ngày 04/6/2007) không còn phù hợp với thực tế hiện nay, nếu sử dụng số liệu này để xây dựng qui họach thì sẽ không khả thi, do đó tháng 4/2012, Chi cục Lâm nghiệp đã tham mưu Sở báo cáo UBND tỉnh cho chủ trương rà soát, qui họach lại 3 loại rừng và được UBND tỉnh đồng ý. Trên cơ sở đó, Chi cục Lâm nghiệp đã tiến hành các thủ tục lập đề cương dự toán trình phê duyệt, xây dựng kế họach đấu thầu để lựa chọn nhà thầu trình Sở Kế hoạch đầu tư thẩm định. Hiện nay, Chi cục Lâm nghiệp đã xây dựng hồ sơ mời thầu trình Sở Nông nghiệp & PTNT thẩm định để có cơ sở triển khai.
2. Công tác xây dựng giá quyền sử dụng rừng
Theo chương trình công tác, việc xây dựng giá rừng bình quân sẽ hoàn thành trong quí 3 năm 2012,  trong quí 1 năm 2012, Chi cục Lâm nghiệp xây dựng đề cương và dự toán Công tác xây dựng giá rừng bình quân, UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 13/4/2012, với tổng kinh phí được phê duyệt là 1.795,7 triệu đồng;
Tuy nhiên do đến tháng 6/2012, UBND tỉnh mới bố trí vốn cho công tác này (Quyết định số 647/QĐ-UBND ngày 31/5/2012); trên cơ sở nguồn vốn được bố trí, Chi cục Lâm nghiệp tiến hành các thủ tục lựa chọn nhà thầu theo qui định và ký hợp đồng với Trung tâm QHKS TK NLN Đăk Nông ( đơn vị trúng thầu) để triển khai vào tháng 9/2012.
Theo kế họach đấu thầu được UBND tỉnh phê duyệt, thì thời gian thực hiện hợp đồng là 6 tháng,  hiện nay nhà thầu tư vấn đã xây dựng xong dự thảo báo cáo xây dựng giá rừng bình quân, dự kiến công tác này sẽ hoàn thành vào tháng 01/2013.
Việc chậm tiến độ so với thời gian qui định trong chương trình công tác năm 2012 là nguyên nhân khách quan (chậm bố trí vốn), tuy nhiên Chi cục Lâm nghiệp đã cố gắng phối hợp với tư vấn hoàn thiện các thủ tục để sớm hoàn thành nhiệm vụ.
3. Triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP trên địa bàn toàn tỉnh
Tính đến thời điểm báo cáo, tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thu được 53,9 tỷ đồng, đạt 68% kế hoạch. Thực hiện giải ngân cho các chủ rừng khoảng 18 tỷ đồng theo kế hoạch phê duyệt.
4. Thực hiện Dự án quy hoạch Xây dựng và phát triển các vùng sản xuất nông sản thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Đăk Nông
Hiện nay đơn vị tư vấn cùng Chi cục QLCL đang chỉnh sửa, hoàn thiện theo ý kiến đóng góp của hội đồng thẩm định cấp tỉnh để trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt trong tháng 12/20125.
5. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, đảm bảo VSATTP đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh.
Đề án được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1110/QĐ-UBND, ngày 30/8/2012. Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành công văn số 1195/SNN-QLCL ngày 12/10/2012 “Về việc phối hợp và triển khai thực hiện Đề án tăng cường năng lực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản trên địa bàn tỉnh”.
6. Thực hiện Quy hoạch Thủy lợi thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.
Tổng kinh phí 2.246,562 triệu đồng. Đã tổ chức hội thảo 2 lần và đang phối hợp với tư vấn chỉnh sửa trình thẩm định. Dự kiến hoàn thành trong quý I năm 2013.
7. Quy hoạch chi tiết sử dụng nguồn nước Tà Đùng và Nam Nung cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đăk Nông do Viện Khoa học Thủy lợi Miền nam thực hiện với tổng kinh phí 1.509 triệu đồng. Đã tổ chức hội thảo 2 lần và đang phối hợp với tư vấn chỉnh sửa trình thẩm định. Dự kiến hoàn thành trong quý I năm 2013.
8. Rà soát, lập đề án, nâng cấp, sửa chữa các các công trình thủy lợi và cấp nước sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh đăk nông.
Chi cục Thủy lợi & PCLB đã phối hợp với Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi cùng với các địa phương xây dựng kế hoạch sửa chữa, nâng cấp và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định 588/QĐ-UBND ngày 21/5/2012.
9. Xây dựng kế hoạch, chương trình điều tra, khảo sát các vùng thường hay bị ngập lụt và triển khai quy hoạch các đường phòng tránh thiên tai trên từng địa bàn thường hay bị ngập lụt và có nguy cơ về lũ quét:
Từ đầu năm, Chi cục Thủy lợi đã lập đề cương dự toán gửi Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường bố trí kinh phí, nhưng chưa được bố trí kinh phí trong năm 2012 nên chưa thể triển khai thực hiện.
10. Xây dựng nông lịch năm 2013
Tổng kinh phí 150 triệu đồng. Trung tâm KNKN đã hoàn tất việc thu thập thông tin, dữ liệu, biên tập nội dung, đã tiến hành các thủ tục in ấn, dự kiến phát hành trong tháng 12 năm 2012 (2.500 cuốn).
11. Chương trình xây dựng nông thôn mới
- Kết quả triển khai lập quy hoạch, hiện nay có 61/61 xã (đạt 100%) đã phê duyệt Quy hoạch.
- Công tác xây dựng đề án: Năm 2012 trên toàn tỉnh có 61/61 xã đã triển khai lập đề án xây dựng nông thôn mới, hiện có:
+ 19/61 xã đã phê duyệt chiếm 31,15%
 + 42/61 xã đã có dự thảo, hiện đang lấy ý kiến đóng góp, chiếm 68,85%.
12. Quản lý công việc theo kết quả - PMS về khai thác mủ trên cây cao su (xây dựng mô hình điểm)
Hiện, Chi cục Bảo vệ thực vật đã tiến hành xây dựng khung kế hoạch, cây vấn đề thực hiện chương trình gửi tổ thực hiện chương trình quản lý công việc theo kết quả - PMS (đặt tại Sở Nội vụ). Tuy nhiên, theo báo cáo của tổ thực hiện chương trình, do nguồn vốn thực hiện chương trình lớn và không bố trí được nguồn vốn thực hiện trong năm 2012 và đề nghị chuyển nội dung trên sang nhiệm vụ năm 2013.
13. Nghiên cứu đề xuất các cây trồng phù hợp với vùng khai thác bô xít sau hoàn nguyên
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đăk Nông đang quản lý triển khai đề tài cấp tỉnh: “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác một số loại cây trồng phù hợp trên đất sau khai thác Bô xít tỉnh Đắk Nông”, do Trung tâm Nghiên cứu và Quan trắc Môi trường Nông nghiệp miền Trung và Tây nguyên trực thuộc Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện. Đồng thời, chương trình nghiên cứu cải tạo, sử dụng đất hoàn nguyên sau khai thác bô xít và các sản phẩm, phế thải trong quá trình khai thác, chế biến bô xít ở Tây Nguyên cấp nhà nước đã triển khai. Chi cục BVTV đã có văn bản đề xuất Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh xem xét, cho phép Chi cục BVTV không trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nêu trên, mà chỉ phối hợp, theo dõi và ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Nhà nước và đề tài do Sở Khoa học và Công nghệ đang triển khai để tránh trùng lặp nội dung và tiết kiệm chi phí ngân sách nhà nước.
14. Rà soát hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp (diện tích ngoài 200 và các diện tích đã trả về địa phương) để thực hiện giao đất giao rừng cho cá nhân/hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn tỉnh
Đề án Đề án giao rừng, cho thuê đã được UBND tỉnh Đăk Nông phê duyệt tại Quyết định số 1941/UBND ngày 10/12/2009, đã quy hoạch 60.299,45 ha rừng và đất lâm nghiệp để thực hiện, (trong đó đất có rừng là 21.055,16 ha và đất không có rừng là 39.244,29 ha); đối tượng là rừng sản xuất ; diện tích này hiện do UBND các xã quản lý; tổng kinh phí đầu tư là 28,582 tỷ đồng.
Đến nay, do không có kinh phí, chưa có chính sách, cơ chế hưởng lợi, diện tích đất lâm nghiệp đa phần đều bị người dân xâm canh, lấn chiếm sử dụng trái pháp luật nên Đề án vẫn không thực hiện được. Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các huyện tham mưu cho UBND huyện, thị xã thực hiện Công văn số 607/UBND-NL ngày 26/3/2009 của UBND tỉnh Đăk Nông về việc tạm giao diện tích rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn quản lý. Kết quả đã tạm giao được 5.842,12 ha. Trong đó: Huyện Tuy Đức ) 581,39 ha); huyện Cư Jut (14,7 ha); Huyện Đăk R’Lấp (177,4 ha); huyện Đăk G’Long (4.835,54 ha); huyện Đăk Song ( 185,96 ha); thị xã Gia Nghĩa (47,13 ha).
15. Sửa đổi bổ sung hoặc thay thế mới về Quy chế quản lý động vật hoang dã gây nuôi trên địa bàn tỉnh
Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với các ban ngành có liên quan triển khai xây dựng Quy chế quản lý Động vật hoang dã gây nuôi trên địa bàn tỉnh Đăk Nông thay thế Quy chế xây dựng năm 2009 để tham mưu UBND tỉnh ban hành.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đăk Nông có 50 trại nuôi sinh trưởng, sinh sản động vật hoang dã đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký trên địa bàn quản lý với 4.067 cá thể. Phân theo loài: 1.292 cá thể Nhím, 25 cá thể Hươu sao, 285 cá thể Heo rừng, 1.203 cá thể rắn Hổ mang, 1.061 cá thể rắn Ráo châu, 12 cá thể Rùa đất, 46 cá thể Cầy hương, 26 cá thể Nai, Kỳ đà vân 59 cá thể, Trĩ đỏ 16 cá thể, Dúi 41 cá thể và 01 cá thể Voi châu á.
16. Nghiên cứu xây dựng dự án KHCN: Vườn thực vật tại ban quản lý rừng đặc dụng cảnh quan Dray Sáp
Xây dựng và bảo vệ thành công đề tài: Điều tra ĐDSH hệ thực vật bậc cao và xây dựng vườn thực vật tại khu rừng đặc dụng cảnh quan Dray Sáp, xã Đăk Soorr, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông
17. Rà soát, xác định lại ranh giới các khu bảo tồn Tà Đùng và Nam Nung, bao gồm cả quy hoạch lại các phân khu chức năng
18. Chính sách về quyền hưởng lợi của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến 02 lần, đang hoàn thiện trình sở Tư pháp thẩm định và tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt để triển khai thực hiện.
19. Chương trình nông nghiệp công nghệ cao:
- Thực hiện quy hoạch khu vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Chi Cục Bảo vệ thực vật đã phối hợp với các đơn vị liên quan, Viện quy hoạch - thiết kế Nông nghiệp tiến hành đo đạc, quy hoạch tổng thể 480 ha và quy hoạch chi tiết 119 ha tại xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk nông, hiện đã hoàn thành 48% khối lượng công việc với lượng kinh phí đã sử dụng khoảng 1.200 triệu đồng. Tuy nhiên, theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh trước mắt tạm dừng dự án quy hoạch khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa để tập trung quy hoạch tại khu vực thao trường bắn thuộc xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa (Diện tích 120 ha). Hiện Chi cục BVTV đã phối hợp với các đơn vị liên quan, đơn vị tư vấn tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng khu vực thao trường bắn dự kiến quy hoạch khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xây dựng đề cương và dự toán, báo cáo Sở Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh xin ý kiến chỉ đạo.
- Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Mô hình trồng cam Cara cara tại huyện Đắk Glong (tổng số hộ tham gia thực hiện mô hình là 32 hộ, xuống giống được 1.250 cây (02 ha)). Kết quả theo dõi mô hình đến nay cây cam Cara sinh trưởng phát triển tốt; Mô hình chăn nuôi gà J-Dabaco với quy mô 3.800 con, địa điểm triển khai tại 4 huyện, 01 thị xã. Tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Cư Jut triển khai bắt giống sớm, đã tiến hành hội thảo và tổng kết mô hình, trọng lượng bình quân của gà tại 02 huyện đạt 2 kg/con/3tháng nuôi, lợi nhuận thu được đạt 57.200 đồng/con (chưa tính công lao động). Tại các huyện còn lại dự kiến sẽ tiến hành hội thảo mô hình trong tháng 12/2012.
- Chương trình nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả các cây trồng ưu thế, chủ lực của tỉnh: Đã triển khai xây dựng 02 đề án phát triển cây trồng chủ lực của tỉnh là cây cà phê và cây ngô, dự kiến trình đề án trong tháng 12/2013.
- Chương trình phát triển cây ăn quả, hoa, rau và cây trồng mới: Hiện nay, Chi cục BVTV đang tiếp tục thực hiện Dự án trồng Cam Cara Cara tại xã Đăk Plao huyện Đăk Glong; Phối hợp với Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh thực hiện triển khai Đề tài xây dựng mô hình trồng cà chua ghép trái vụ trên địa bàn 8 huyện, thị xã.
- Chương trình phát triển cây dược liệu, gia vị: Hiện nay, Chi cục BVTV đang theo dõi, tổ chức chỉ đạo về mặt quản lý nhà nước chuyên ngành; Công ty nông sản và dược liệu sạch Đăk Nông đang thực hiện mô hình trồng cây dược liệu, quy mô 10 ha cây Đinh lăng lá nhỏ, 10 ha cây Kim ngân hoa, 04 ha cây Ý dĩ, 0,9 ha cây Khổ sâm cho lá tại xã Đăk Ha, Quảng Sơn huyện Đăk Glong. Chi cục đang phối hợp theo dõi kết quả thực hiện mô hình, để từ đó có kế hoạch nhân rộng trong thời gian tới.
- Chương trình phát triển thủy sản:
+ Đầu tư xây dựng Trung tâm giống thủy sản: Năm 2011 được bố trí 10 tỷ đồng, trong đó vốn chuẩn bị đầu tư 500 triệu đồng, vốn dùng cho bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư 9,5 tỷ đồng. Đã chi trả cho dân trong diện giải tỏa đền bù 9,5 tỷ đồng, hiện còn thiếu của dân 2.761 triệu đồng. Năm 2012 chưa được bố trí vốn nên chưa triển khai các bước tiếp theo.
+ Dự án chuyển giao kỹ thuật nuôi cá nước lạnh: Sở Nông nghiệp & PTNT đã phối hợp với các chuyên gia về cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng và thuê tư vấn khảo sát lập dự án. Tuy nhiên, đến ngày 14/3/2012, UBND tỉnh có công văn số 801/UBND-KTTC, nội dung “Không đầu tư bằng ngân sách Nhà nước cho dự án. Bổ sung dự án vào các dự án đặc biệt ưu đãi đầu tư ”. Do đó dự án hiện nay không còn thực hiện nữa, chở thu hút đầu tư từ các doanh nghiệo quan tâm.
-  Chương trình chăn nuôi bò thịt, bò sữa, động vật hoang dã: Tiếp tục thực hiện Dự án cải tiến, nâng cao chất lượng giống bò thịt tỉnh Đăk Nông:
+ Tại huyện Cư Jút: Đã tiến hành thống kê, bình tuyển đàn bò cái lai F1 đủ tuổi để chuẩn bị cho công tác lai cấp tiến bằng phương pháp gieo tinh thuần, tổng số bò bình tuyển đến nay được 200 con. Đã nhập 600 liều tinh thuần, bình ni tơ và các thiết bị phục vụ công tác gieo tinh nhân tạo để triển khai giai đoạn lai cấp tiến nhằm nâng cao tỷ lệ máu lai giống bò Brahman đỏ lên cao hơn so với con lai cải tiến. Lũy kế đến nay số bê lai đã sinh sản được 949 con.
+ Tại huyện Đăk Glong và Tuy Đức: Tiến hành bình tuyển bò cái nền, hướng dẫn chủ hộ nuôi bò cái nền ký kết hợp đồng tham gia dự án, lựa chọn hộ có đủ điều kiện để nuôi bò đực giống (Kết quả đã bình tuyển được 828 con bò cái nền và 87 hộ có đủ điều kiện để nuôi bò đực). Tiến hành đấu thầu mua 87 con bò đực giống về giao cho 87 hộ đã chọn.
- Chương trình giống cây lâm nghiệp: Chi cục lâm nghiệp đã xây dựng đề cương dự toán Chương trình giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012-2020 với các nội dung: Nâng cấp, mở rộng vườn ươm hiện có của Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa và Công ty TNHH MTV Thuận Tân; xây dựng mới 02 vườn ươm phía Nam tỉnh; nguồn giống (lâm phần tuyển chọn, rừng giống chuyển hoá, cây mẹ là cây trội, rừng giống); đào tạo, tập huấn và được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương tại văn bản số 2232/UBND-NN ngày 06/6/2012; Sở đã trình Bộ Nông nghiệp & PTNT đề nghị thẩm định Dự án giống cây trồng lâm nghiệp tỉnh Đăk Nông, giai đoạn 2012-2020.
Theo công văn số 4622/UBND-NN ngày 29/10/2012 của UBND tỉnh, nguồn vốn để bố trí cho thực hiện dự án từ Ngân sách TW chưa được xác định cụ thể, do vậy Sở đã tổ chức cuộc họp với Sở Kế hoạch & ĐT; Sở Tài chính để xác định rõ nguồn vốn và kế hoạch vốn hàng năm có khả năng bố trí cho việc triển khai thực hiện dự án từ ngân sách TW và địa phương, hiện đề cương đã được gửi cho Sở Kế hoạch và ĐT thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt.
- Chương trình bảo quản sau thu hoạch, chế biến, tiêu thụ, xúc tiến đầu tư, thương mại, quảng bá và giới thiệu sản phẩm: Chi cục Phát triển nông thôn đã có Công văn đề nghị Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn bố trí, hỗ trợ 02 mô hình bảo quản chế biến cà phê và hồ tiêu với kinh phí 400  triệu/mô hình. Tuy nhiên, Cục Kinh tế hợp tác không đủ nguồn vốn hỗ trợ  02 mô hình trên nên đã chuyển sang mô hình trồng cây Mác ca với kinh phí 200 triệu. Do nguồn vốn được phê duyệt cuối mùa mưa nên Chi cục chưa triển khai thực hiện được; Lập Dự án Quy hoạch mạng lưới chế biến nông lâm sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Đến nay đã lấy ý kiến của các Sở ban, ngành đang chỉnh sửa trình UBND  phê duyệt; Phối hợp với đơn vị tư vấn triển khai thực hiện khảo sát mô hình điểm nghề truyền thống tại 2 huyện Đắk Glong và Krông Nô.

Nhìn chung các nhiệm vụ đã cơ bản hoàn thành, cá nhân và đơn vị được phân công đã nổ lực, có trách nhiệm trong việc thực hiện. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, mức độ hoàn thành nhiệm vụ cũng khác nhau. Một trong những nguyên nhân chính là công trình đã được phê duyệt nhưng không được bố trí vốn nên không thể thực hiện, hoặc bố trí vốn muộn nên triển khai không kịp tiến độ (các dự án quy hoạch), công tác đấu thầu kéo dài, một số đơn vị còn chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là các nhiệm vụ được giao phối hợp thực hiện giữa nhiều đơn vị.
 

Đánh giá chung:
Năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông lâm thủy sản dự báo tăng 7,93%; GDP theo giá theo giá so sánh 1994 ngành nông nghiệp ước đạt 4.411 tỷ đồng.
Nhìn chung, công tác chỉ đạo một số lĩnh vực sản xuất đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản được giao: Tổng sản lượng lương thực 346,7 ngàn tấn, bằng 101,41% kế hoạch; Sản lượng cà phê nhân 210 ngàn tấn (kế hoạch 143 ngàn tấn), 78% hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, 52,39% hộ gia đình nông thôn có công trình vệ sinh hợp vệ sinh, trồng rừng 958,3 ha (đạt 122,86% kế hoạch)…
 Giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác đạt khoảng 43 triệu, tăng 3,98 triệu so với năm 2011. Góp phần nâng cao đời sống cho người dân, cải thiện mức sống dân cư, đặc biệt là dân tộc thiểu số tại chỗ.

- Về phương hướng nhiệm vụ năm 2013:

1. Định hướng
 - Bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Áp dụng khoa học, kỹ thuật, giống mới, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất và hiệu quả đầu tư.
- Tập trung thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng chủ yếu như lúa, ngô, cà phê…các loại cây công nghiệp, cây ăn quả có lợi thế. Mục tiêu chủ yếu là tăng nhanh hiệu quả sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích, góp phần giảm thiểu lạm phát, cải thiện chung về nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
- Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong năm 2013 và những năm tới theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, phát triển nông nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường.
- Phát triển nhanh chăn nuôi gia súc gia cầm, thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn. Khuyến khích phát triển và hình thành các vùng chăn nuôi tập trung theo hình thức trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với cơ sở chế biến tập trung và xử lý chất thải. Phát triển chăn nuôi và đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung, tạo điều kiện tăng trưởng ổn định ngành chăn nuôi theo hướng bền vững và an toàn thực phẩm; Duy trì và tăng đàn gia súc gia cầm, không để dịch bệnh xảy ra.
- Phát triển lâm nghiệp bền vững, toàn diện, có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế quốc dân; áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Gắn công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng và nghề rừng, trên cơ sở kinh doanh rừng bền vững. Phát triển lâm nghiệp gắn với việc xoá đói, giảm nghèo, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực con người.

2. Giải pháp
 - Phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa (gắn với thị trường), nâng cao hiệu qủa sản xuất, thực hiện thâm canh thông qua việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật. Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh, trong đó tập trung vào các khâu có tính quyết định như :
 + Ưu tiên đầu tư sản xuất giống, quản lý và sử dụng giống mới, giống lai có năng suất cao chất lượng tốt.
 + Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ với mục tiêu sử dụng hiệu qủa đất đai, cây trồng.
+ Tăng cường chuyển giao các biện pháp kỹ thuật canh tác thực hành trong sản xuất và thâm canh.
- Xây dựng và thực hiện những chương trình nâng cao năng suất đất đai, sử dụng hợp lý nguồn nước ở các địa phương. Áp dụng những hệ thống sản xuất kết hợp nông-lâm, nông- lâm-ngư nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm sử dụng tổng hợp và có hiệu quả các loại tài nguyên đất, nước và khí hậu.
- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm và tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học ứng dụng vào thực tiễn tại địa phương.
- Tiếp tục đẩy nhanh công tác giao đất, giao rừng và cho thuê rừng để các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn, bon tổ chức quản lý bảo vệ và phát triển kinh doanh rừng. Củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp, xây dựng cơ chế chính sách gắn kết quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ rõ ràng, cụ thể.
- Tổ chức thực hiện tốt chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh.
 - Tập trung hoàn thành các công trình thủy lợi đang dở dang, đầu tư mới chủ yếu để nâng cấp các công trình hiện có, đảm bảo an toàn các hồ chứa. Đẩy nhanh tiến độ, triển khai thi công các công trình bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ, nâng cấp và kiên cố hóa kênh mương.
 - Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi dưới các hình thức: Tiến hành rà soát, thống kê các công trình thủy lợi đã hoàn thành đưa vào sử dụng. Đẩy nhanh tiến độ thành lập các tổ chức quản lý vận hành công trình nhằm nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi.
 - Tăng cường kiểm tra hiện trạng chất lượng các công trình trước cũng như sau mùa mưa lũ để có các biện pháp khắc phục kịp thời. Tiến hành đánh giá tình trạng xuống cấp của các công trình, tìm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của dự án.
 - Kiểm tra an toàn hồ, đập, các khu dân cư có nguy cơ cao xảy ra ngập, lũ quét và sạt lở, trượt nứt đất; công tác quản lý, vận hành các công trình điều tiết.
 - Kiểm tra tình hình thiệt hại do khô hạn, mưa lũ, lốc, sét, sạt lở và công tác chỉ đạo thực hiện phòng tránh, cứu nạn, hỗ trợ và khắc phục hậu quả.
 - Tập trung hoàn thành các CTTL, đầu tư mới chủ yếu để nâng cấp các công trình hiện có; đảm bảo an toàn các hồ chứa. Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; nâng cấp và kiên cố hóa kênh mương;
- Quy hoạch đầu tư phát triển làng nghề trên cơ sở nguồn vốn của địa phương, của doanh nghiệp và hộ gia đình, cá nhân, tạo điều kiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn;
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác trên địa bàn;
- Phối hợp với các ngành triển khai nhanh và hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện quy hoạch khu nông nghiệp chất lượng cao, nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp chất lượng cao.
- Giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc tại chỗ đồng thời đầu tư thoả đáng  với các giải pháp tổng hợp để ổn định đời sống đồng bào dân di cư tự do cũng như  dân đi KTM theo quy hoạch . Lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và quy hoạch ổng định dân cư một cách có hiệu quả.
- Tập trung, lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đang gặp nhiều khó khăn, các cơ sở phát triển sản xuất gắn chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho một số xã thuộc chương trình 135. Ưu tiên xây dựng các công trình phục vụ sản xuất như khai hoang, thủy lợi và các công trình phục vụ công cộng thiết yếu như giao thông, trường học
- Triển khai rộng khắp tiến bộ kỹ thuật “3 giảm, 3 tăng”; đưa nhanh các giống mới, công nghệ canh tác, bảo quản, chế biến vào sản xuất;
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng hộ nông dân để hạn chế tình trạng mở rộng diện tích cà phê như hiện nay, góp phần đảm bảo quy hoạch chung của ngành trong thời gian tới. Có chính sách hỗ trợ nông dân trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi diện tích khoai mì, cà phê già cỗi, diện tích điều kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác như: cao su, ca cao, cây ăn quả, đậu đổ các loại, ngô...


CÁC CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH CHỦ YẾU NĂM 2013:
  1.Tổng diện tích gieo trồng :    300.089 ha
Trong đó: (một số cây trồng chính)
+ Lúa:      12.374 ha
+ Ngô:      45.450 ha
+ Lạc:    9.150 ha
+ Đậu nành:    12.050 ha
+ Mía:        850 ha
+ Bông vải:           1.000 ha
+ Cà phê:      116.000 ha
+ Cao su:      30.630 ha
+ Điều:     15.370 ha
+ Hồ tiêu:       9.370 ha
2. Sản lượng:
- Sản lượng lương thực có hạt:   360.435 tấn
Trong đó: + Lúa:      68.630 tấn
+ Ngô:    291.805 tấn
- Đậu Nành:         24.825 tấn
- Đậu lạc:        19.410 tấn
- Mía:          50.660 tấn
- Bông vải:             1.620 tấn
- Sản lượng Cà phê:   234.000 tấn
- Sản lượng Cao su (mủ tươi):       19.510 tấn
- Điều:          15.657 tấn.
- Hồ tiêu:          16.170 tấn
3. Đàn trâu, bò.        30.800 con
4. Đàn dê.         8.500 con
5. Đàn lợn                  150.000 con
6. Đàn gia cầm:             1.300.000 con
7. Diện tích nuôi trồng thủy sản:          1.500 ha
  Sản lượng nuôi trồng thủy sản:        3.500 tấn
8. Giao khoán quản lý bảo vệ rừng:     34.538,5 ha
9. Trồng rừng :                    838,8 ha, trong đó:
- Trồng rừng phòng hộ:    87,8 ha
- Trồng rừng sản xuất:     751 ha.
10.Tỉ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 80%
11. Tỉ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh 56%.
12. Giá trị sản xuất bình quân/ha đất canh tác trên 45 triệu đồng.

3. Các kiến nghị:
1. Nông nghiệp: Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo sản xuất cũng như xử lý khi dịch hại xảy ra. Cụ thể:
- Trạm BVTV các huyện, thị xã phối hợp với địa phương rà soát, cân đối cụ thể cho từng cây trồng về diện tích, năng suất, sản lượng phù hợp với điều kiện thực tế; Tổ chức giao kế hoạch và hướng dẫn sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho các đơn vị xã, phường.
- Đề nghị UBND các huyện, thị xã và các ban ngành liên quan phối hợp với hệ thống BVTV và khuyến nông ở địa phương tuyên truyền rộng rãi đến người dân chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến 2020. Đẩy mạnh công tác chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất nông nghiệp, triển khai các mô hình điểm về giống, kỹ thuật canh tác nông nghiệp công nghệ cao để nông dân tham quan, học hỏi. Xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao đối với điều kiện sản xuất cụ thể của từng địa phương, phát huy tiềm năng, thế mạnh sẵn có của vùng trong giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến 2020.
- Các địa phương tăng cường kiểm tra theo dõi, quản lý tốt tình hình diễn biến của thời tiết, khí hậu, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nước. Xây dựng các phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện kinh tế xã hội và tập quán canh tác của từng vùng, từng địa phương, chủ động phòng chống thiên tai bảo vệ sản xuất với mục tiêu nâng cao hiệu quả, chất lượng sản xuất.
- Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện, Phòng kinh tế thị xã phối hợp với chi cục BVTV hoàn thành tốt việc nắm bắt tiến độ thực hiện sản xuất để báo cáo Sở Nông nghiệp & PTNT, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh theo định kỳ. Thường xuyên cử cán bộ chuyên trách bám sát đồng ruộng kiểm tra phát hiện sâu bệnh, dịch hại, tình hình khô hạn,... để có biện pháp phòng trừ kịp thời, không để gây thành dịch lớn.
- Cần đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động khuyến nông theo kế hoạch phát triển khuyến nông đã được phê duyệt giai đoạn 2012-2015 (Quyết định số: 1006/QĐ- UBND, ngày 15 tháng 08 năm 2012).
- Các văn bản hướng dẫn cần được ban hành kịp thời, các chương trình dự án cần được giao sớm để đảm bảo tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp.
2. Lâm nghiệp:
Kính đề nghị UBND tỉnh xem xét bố trí vốn cho các hạng mục sau:
- Vốn trồng rừng còn thiếu năm 2011: diện tích 79,61 ha với số vốn còn thiếu là 538.619.351 đồng (trong đó: BQL rừng đặc dụng cảnh quan Đray Sáp là 60,0 ha, với số vốn là: 459.908.940 đồng; Rừng phòng hộ Quốc lộ 14, khối lượng là 19,61 ha, số vốn là: 78.710.411 đồng), vốn này đã được UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính bố trí tại Văn bản số 3270/UBND-NN ngày 08/8/2012, thời gian chậm nhất là ngày 15/8/2012, tuy nhiên đến nay vẫn chưa được bố trí vốn.
- Vốn còn thiếu của Chương trình Bảo vệ và phát triển rừng năm 2012 là: 2.901.416,19 ngàn đồng, trong đó vốn Ngân sách TW: 955.191,88 ngàn đồng; ngân sách địa phương: 1.946.224,31 ngàn đồng;
- Vốn còn thiếu của công tác rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng là: 1,01 tỷ đồng,  để có cơ sở triển khai thực hiện.
- Chỉ đạo UBND các huyện, thị xã thường xuyên theo dõi, quản lý địa bàn, không để dân di cư tự do đến sinh sống bất hợp pháp trong các khu rừng.
-  Chỉ đạo chính quyền địa phương các cấp, các ngành, các đơn vị chủ rừng phải thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo đúng quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012.
- Cho chủ trương sử dụng quỹ 59 được chi cho các nội dung quản lý bảo vệ rừng; Bố trí kinh phí để thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng đã đuợc phê duyệt theo Quyết định số 1941/UBND ngày 10/12/2009 của UBND tỉnh.
Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT:
-  Cho chủ trương rà soát, kiểm kê lại toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp để thực hiện có hiệu quả việc theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh trong thời gian tới.
-  Sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành các chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
3. Thủy lợi:
- Đề nghị Thường trực Ban chỉ huy có ý kiến, đề nghị Trung tâm Phòng tránh thiên tai thuộc Ban chỉ đạo PCLB & GNTT Trung ương nên nắm bắt cụ thể tình hình ở địa phương để tổ chức tập huấn, đào tạo giảng viên, cán bộ cấp tỉnh được thuận lợi và các ngành có điều kiện cử cán bộ dự được đầy đủ.
- Đề nghị UBND tỉnh và các ngành chức năng cần có biện pháp xử lý tình trạng khai thác cát trái phép trên các dòng sông (gây ra sạt lở dọc hai bên bờ sông Krông Nô) và có biện pháp gia cố bờ sông chống sạt lở.
- Đề nghị UBND tỉnh bổ sung ngân sách trong năm 2013 để Ban Chỉ huy PCLB &TKCN tỉnh để kịp hỗ trợ đột xuất cho các địa phương.
- Đề nghị UBND tỉnh sớm cho chủ trương đầu tư xây dựng phương án: Điều tra, đo đạc lập bản đồ, khoanh vùng, cắm mốc các vùng thường xuyên hay bị ngập lụt tại các huyện Tuy Đức, Đăk G’long tỉnh Đăk Nông trong điều kiện biến đổi khí hậu bằng nguồn vốn hỗ trợ ngành Nghiệp và PTNT năm 2013.
- Về công tác đền bù giải phóng mặt bằng cần có sự phối hợp, ủng hộ và hỗ trợ của các cấp lãnh đạo, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đang triển khai thi công xây dựng. Công tác thẩm định phê duyệt hồ sơ cần có sự quan tâm xem xét hỗ trợ của các Sở ban ngành và các đơn vị có liên quan.
 - Kính đề nghị Trung ương, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch& Đầu tư và các Sở ban ngành bổ sung vốn đầu tư cho các dự án đang thi công.
- Đối với Dự án Phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp các tỉnh Tây Nguyên từ nguồn vốn vay của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). Kính đề nghị Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, các địa phương liên quan tạo các điều kiện tốt nhất để có thể tranh thủ tối đa nguồn vốn này. Đồng thời cam kết với nhà tài trợ bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án.
4. Chăn nuôi, thủy sản:
- Đề nghị UBND tỉnh Đăk Nông phê duyệt và bố trí vốn cho Đề án phát triển nhanh đàn bò thịt chất lượng cao của tỉnh.
- Đề nghị ưu tiên bố trí các nguồn vốn triển khai xây dựng Trung tâm giống thủy sản để sản xuất giống tại chỗ, cung ứng giống cho nuôi trồng thủy sản trong dân, tận dụng mặt nước của các hồ, đập, công trình thủy lợi khác có hiệu quả.
5. Phát triển nông thôn: để từng bước ổn định cho các hộ dân di cư tự do UBND tỉnh Đăk Nông đã phê duyệt dự án tại một số điểm nóng, kính đề nghị Trung ương bố trí vốn tập trung một số dự án trọng điểm sau:
- Tiếp tục đầu tư cho Dự án trọng điểm ổn định dân di cư tự do khu vực biên giới xã Thuận Hà huyện Đăk Song 41,452 tỷ đồng.
- Tiếp tục đầu tư Dự án bố trí sắp xếp cho 111 hộ di cư tự do sinh sống vùng ngập lụt cần di dời khẩn cấp thôn Nam Dao xã Nâm N’dir huyện Krông Nô, tổng mức đầu tư 10,066 tỷ đồng.
- Dự án ổn định dân di cư tự do 03 thôn Tân Định, Tân Lập Bắc Sơn xã Đăk Gần huyện Đăk Mil, tổng mức đầu tư 15 tỷ đồng.
- Chương trình muc tiêu quốc gia Nông thôn mới: Cần phân vùng để hỗ trợ vốn đầu tư, đặc biệt là các tỉnh khó khăn, tỉnh mới thành lập chưa tự cân đối ngân sách như tỉnh Đắk Nông.
6. Ngoài ra, Đăk Nông là tỉnh còn nhiều khó khăn về vốn và thu hút đầu tư, kính đề nghị các Bộ, ngành Trung ương bố trí nguồn vốn từ các Chương trình, các tổ chức và ngân sách Trung ương:
Hỗ trợ kinh phí, tư vấn khoa học kỹ thuật để tiếp tục thực hiện chương trình giống cây trồng, vật nuôi, chế biến, bảo quản sau thu hoạch, phát triển thị trường, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, xúc tiến đầu tư, hợp tác đầu tư... để tăng khả năng đầu tư vào sản xuất của nông hộ nhằm tăng năng suất, sản lượng, hiệu quả bền vững.

 

Văn Chinh
 


Số lượt người xem: 1041Bản in Quay lại
Xem theo ngày: